Quá lĩnh

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt Dịch nghĩa

前崗日落馬虺隤
行盡梅關不見梅
夾道千松撐漢立
綠雲一路擘山開
長安日近聊舒目
故國天遙重感懷
唐相一從通此道
不知今幾百年來

Tiền cương nhật lạc mã khôi đồi ;
Hành tận Mai quan[1] bất kiến mai.
Giáp đạo thiên tùng xanh hán lập[2] ;
Duyên vân nhất lộ phách sơn khai.
Trường an nhật cận liêu thư mục ;
Cố quốc thiên dao trọng cảm hoài.
Đường tướng[3] nhất tòng thông thử đạo,
Bách tri kim kỷ bách niên lai.

Mặt trời lặn ở gò trước, ngựa mệt nhoài ;
Đi hết Mai-quan mà không thấy cây mai đâu cả.
Sát đường hàng nghìn cây tùng đứng chọc thấu ngân hà ;
Theo mây một đường xẻ núi ra mà mở.
Gần mặt trời Trường-an, buông mắt nhìn tới ;
Xa bầu trời cố quốc, nặng tình cảm hoài.
Từ khi Đường tướng mở thông đường ấy,
Đến nay không biết mấy trăm năm rồi.

   




Chú thích

  1. Mai quan là cửa ải dựng trên đèo Mai lĩnh, tức đèo Đại Dũ, tể tướng nhà Đường là Trương Cửu Linh mở đường đèo ấy, trồng nhiều cây mai nên gọi là Mai lĩnh, đến đời Tống, Thái Đĩnh trồng tùng ở sát đường, đặt cửa ải ở trên đèo gọi là Mai quan, nhưng khi tác giả đi qua đấy thì không thấy còn cây mai nào cả
  2. Xanh hán lập: nghĩa là chống ngân hà mà đứng. Bấy giờ đã là cảnh chiều hôm
  3. Đường tướng: tức Trương Cửu Linh