Quản Trọng Tam Quy đài

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt Dịch nghĩa

舊臺湮沒草離離
曾以桓公霸一時
郡縣城中空九合
莓苔石上記三歸
在朝巧與君心合
沒世終憐相業卑
喜值聖朝公覆燾
往來臺下雜華夷

Cựu đài nhân một thảo li li
Tằng dĩ Hoàn Công[1][2] nhất thì
Quận huyện thành trung không cửu hợp[3]
Môi đài thạch thượng kí Tam Quy
Tại Triều xảo dữ quân tâm hợp
Một thế chung liên tướng nghiệp ti[4]
Hỉ trị thánh triêu công phúc đảo
Vãng lai đài hạ tạp Hoa, Di[5]

Đài cũ chìm lấp, cỏ mọc tua tủa
Từng giúp Tề Hoàn Công nên nghiệp bá một thời
Trong thành đã chín lần hợp các quận huyện
Trên đá rêu phủ còn ghi chữ "Tam Quy"
Ở triều đình khéo hợp lòng vua
Rốt cuộc chết, bị chê là tể tướng công nghiệp nhỏ mọn
Mừng gặp thánh triều che chở khắp
Dưới đài qua lại lẫn lộn người Hoa, người Di

   




Chú thích

  1. Tức Tề Hoàn Công 齊桓公
  2. Thời Xuân Thu có năm vua chư hầu làm nên nghiệp bá, Hoàn Công nước Tề là một
  3. Chín lần họp. Quản Trọng giúp Tề Hoàn Công trước sau họp chư hầu chín lần
  4. Mạnh Tử có câu chê: "Quản Trọng được vua tin dùng như thế, mà sự nghiệp chỉ tầm thường có thế"
  5. Hoa, văn minh chỉ người Trung Quốc, Di, mọi rợ, chỉ các dân tộc ở ngoài biên giới Trung Quốc. Quản Trọng làm tướng, dùng chính sách tôn nhà Chu, đàn áp các dân tộc ngoại biên giới. Khổng Tử có câu nói: "Nếu không có Quản Trọng thì ta đã phải gióc tóc, khép vạt áo sang bên trái rồi", nghĩa là đã hóa ra mọi rợ rồi. Ở đây nhà thơ có ý nói: "Ngày nay Trung Quốc đã thống nhất, không còn phân biệt Hoa với Di như thời Quản Trọng nữa"