Quy Côn-sơn chu trung tác

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt Dịch nghĩa

十年飄轉嘆蓬萍
歸思搖搖日似旌
幾托夢魂尋故里
空將血淚洗先塋
兵餘斤斧嗟難禁
客裡江山只此情
鬱鬱寸懷無奈處
船窗推枕到天明

Thập niên phiêu chuyển thán bồng bình,
Qui tứ dao dao[2] nhật tự tinh.
Kỷ thác mộng hồn tầm cố lý ;
Không tương huyết lệ tẩy tiên uynh.
Binh dư cân phủ ta nan cấm ;
Khách lý giang sơn chỉ thử tình.
Uất uất thốn hoài vô nại xứ,
Thuyền song thôi chẩm đáo thiên minh.

Mười năm xiêu giạt thân mình như cỏ bồng cánh bèo.
Lòng muốn về nhà ngày nào cũng như cờ rung động luôn.
Bao nhiêu lần nhờ hồn mộng mà tìm làng cũ ;
Chỉ suông đem nước mắt pha máu mà rửa mộ tổ tiên.
Trải binh lửa than ôi khó ngăn rìu búa ;
Trong cảnh khách đối với giang sơn chỉ chút tình này.
Uất ức tấc lòng không làm sao được ;
Cửa thuyền xô gối không ngủ đến trời bình minh.

   




Chú thích

  1. Côn Sơn: Núi ở xã Chi Ngại huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương, Trần Nguyên Đán là ông ngoại của Nguyễn Trãi về ẩn ở đấy trong khi Hồ Quý Ly chuyên quyền, kinh dinh động Thanh Hư ở trong núi. Nguyễn Trãi thừa hưởng nghiệp ấy
  2. Dao dao: dao động luôn không lúc nào yên