Tây sương ký/Phần I/Chương III

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Cảnh thứ nhất: Biệt thự họ Thôi

OANH OANH – (ra) Mẹ tôi sai con Hồng sang hỏi sư cụ hôm nào thì làm chay. Nó đi đã lâu, sao chưa thấy về thưa lại?

CON HỒNG – (ra) nói một mình: Thưa với bà lớn rồi, giờ vào thưa lại cô tôi rõ.

OANH OANH – Em hỏi sư cụ thế nào?

CON HỒNG – Con vừa thưa với bà, đương định vào thưa lại với cô. Ngày rằm tháng hai này, không biết cúng Phật cúng phiếc gì ấy, mời bà và cô sang dâng hương (cười). Con xin thưa với cô một câu chuyện thấy tức cười: Cái chàng mà hôm trước ở ngoài vườn hoa, cô với con nhác trông thấy ấy, hôm nay cũng thấy ngồi ở phương trượng. Chàng ta ra trước, đón con ở ngoài cửa, chào một cách rất lễ phép rồi hỏi: "Chị có phải chị Hồng, người hầu cô Oanh không?" Thế rồi lại nói luôn: "Tôi họ Trương tên Củng, tự là Quân Thụy, quán ở Tây Lạc, năm nay mới hai mươi ba tuổi, sinh giờ Tí ngày 17 tháng giêng. Tịnh chưa lấy vợ bao giờ!"

OANH OANH – Ai bảo mày hỏi người ta?

CON HỒNG – Thì nào ai hỏi chàng ta! Chàng ta còn gọi đến cả tên cô, hỏi thường hay ra ngoài không? Con mới dồn cho một trận rồi về đây.

OANH OANH – Mày chẳng mắng người ta nữa thì cũng thôi!

CON HỒNG – Thưa cô, không biết chàng ta nghĩ thế nào! Ở đời lại có hạng người ngốc nghếch đến như thế! Sao con lại chả mắng!

OANH OANH – Mày có thưa với bà không?

CON HỒNG – Thưa chưa!

OANH OANH - Thế thì thôi cùng đừng thưa với bà nữa! Chiều trời đã muộn, ra vườn hoa bầy hương án, ta ra thắp hương.

Ngâm:

Trông xuân chợt rối lòng tơ
Tự bên lồng ấp mà chờ bóng trăng.

(Cùng vào)

Cảnh thứ hai: Mái Tây chùa Phổ Cứu, một bên là vườn hoa họ Thôi.

CẬU TRƯƠNG – (ra) Dọn vào chùa, được ở ngay dưới Mái Tây. Tôi hỏi thăm sư ông, thì ra đêm nào cô em cũng ra vườn hoa thắp hương. Vừa hay vườn hoa lại ở ngay bên kia tường. Tôi cứ ngồi đợi ngay ở góc tường, bên hòn non bộ này. Đợi cô em ra, nhìn cho no con mắt cũng hay! Đêm khuya, người vắng, gió mát, trăng thanh, chiều trời mới đẹp làm sao chứ!

Ngâm:

Rỗi bàn chuyện với thầy tăng!
Buồn ngâm thơ với bóng trăng đỡ buồn!

Hát:

Khuôn thiêng chẳng chút bụi trần!
Ánh trăng, át nhạt dòng ngân, ngang trời!
Sân hoa bóng rợp tơi bời,
Áo là ngại lạnh, bồi hồi lòng xuân…
Nghiêng vành tai, rén gót chân,
Bên tường tôi ngóng, góc sân tôi rình,
Rình rình, ngóng ngóng Oanh Oanh,
Tha tha thướt thướt, xinh xinh tuyệt vời!
Muôn loài im tiếng: canh hai!
Qua tường, tôi nấp bên ngoài hiên Đông,
Thấy bước ra là ôm riết vào lòng,
Nỗi niềm sẽ liệu gạn gùng cho ra:
Cớ sao tiếng vắng, hơi xa,
Chưa hề xum họp, những là chia phôi?

OANH OANH (ra ở bên vườn hoa) - Hồng ơi! Mở cửa mạch đem hương án ra, em!

CẬU TRƯƠNG:

Then hoa xịch động cách tường!
Gió đưa thoáng thấy mùi hương áp quần!
Rến gót lên nhìn lại cho gần,
So với khi mới gặp lại có phần thêm tươi!
Mãi đêm nay mới nhìn được rõ mười:
Ả Hằng cung Nguyệt đã chắc đẹp người như thế chưa!

Bó buộc tuổi xuân âu cũng ngán, cất mình bay lên khỏi cung trăng! Mặt ngọc trông ngang: vạt hồng nửa khép; không nói phất phơ tay áo; đứng yên tha thướt quần là; ví tả vào trong phú Trần vương, thực đáng gái thần bến Lạc; phỏng đứng tựa ngoài đền Thuấn đế rõ ràng là bà chúa sông Tương! Người đâu đẹp cha chả là đẹp a!

Dưới hoa bước chậm rì rì,
Bàn chân nhỏ quá chưa đi đã chồn!
Càng gần càng trăm đẹp, nghìn dòn;
Thảo nào chẳng thu mất linh hồn người ta!

OANH OANH – Đem hương đây!

CẬU TRƯƠNG – Ta thử nghe xem cô em khấn khứa những gì?

OANH OANH - Thắp tuần hương này, xin cầu cho cha tôi siêu sinh Tịnh độ! Thắp tuần hương này, xin cầu cho mẹ tôi trường thọ bách niên! Thắp tuần hương này... (Nín lặng hồi lâu).

CON HỒNG – Thưa cô, sao đêm nào đến tuần hương ấy, cô cũng nín lặng? Thôi, cô để con khấn hộ! Con xin cầu trời khấn Phật phù hộ cho cô con, lấy được cậu con là người ra ngoài hào hoa, vào trong phong nhã, tài cao học rộng, thi đậu Trang Nguyên, cùng cô con ăn ở đến trăm năm đầu bạc ạ!

OANH OANH – (thêm hương, lạy) Ngâm:

Thế gian bao nỗi đau lòng,
Xin đem gửi cả vào trong lạy này!

(Thở dài)

CẬU TRƯƠNG – Thưa cô! Có điều chi bận nghĩ, mà cô lại đứng tựa bao lơn cất tiếng thở dài làm vậy?

Khói trầm tỏa khắp sân không,
Đêm khuya vắng cả gió Đông lay mành!
Lạy xong, đứng tựa một mình,
Thở dài mấy tiếng trăm tình đầy vơi!
Trăng tròn như mảnh gương soi!
Khắp vườn sương nhạt suốt trời mây quang!
Hai người đổ lộn khói hương,
Cả hai cùng thấy mơ màng, say sưa.

Cứ ý tôi nghĩ thì cô em thở dài như vậy, trong lòng tất có cảm điều gì? Mà thưa cô, có lẽ cô cũng là Văn Quân thủa trước đó chăng? Tôi đây tuy không bằng Tư Mã Tương Như, cũng thử ngâm chơi một bài, xem cô em nói ra thế nào đã:

Vằng vặc đêm trong nguyệt!
Âm thầm cảnh dưới hoa!
Cớ sao kề bóng sáng,
Chẳng thấy mặt Hằng Nga?

OANH OANH – Có ai ngâm thơ ở góc tường.

CON HỒNG – Nghe rõ tiếng cái anh chàng 23 tuổi, tịnh chưa có vợ bao giờ.

OANH OANH - Lời thơ mới thanh lịch làm sao. Hồng ơi! Theo vần ta họa một bài chơi?

CON HỒNG – Vâng! Cô thử họa một bài, đọc con nghe!

OANH OANH:

Vắng vẻ nơi buồng gấm,
Buồn xuân, thẹn với hoa!
Xót tình ai bạo bực,
Họa có khách ngâm nga!

CẬU TRƯƠNG – (mừng rỡ) Họa đáp lại mới mau làm sao!

Mặt đà đúc sẵn khuôn xinh:
Tim còn vùi sẵn thông minh hơn người!
Thơ ta họa lại như chơi.
Mà văn bay bướm, mà lời thiết tha!
Khen tài dệt liễu, thêu hoa.
Tên mình thực đáng gọi là Oanh Oanh!
Phải chăng tình lại gặp tình,
Thơ ta cũng đã được mình khen hay!
Thì cách tường mình đấy ta đây,
Cùng nhau xướng họa đến sáng ngày mà chơi.

Ta thử trèo tường sang, xem cô em ra làm sao!

Vén áo là, ta thử sang chơi.
Biết rằng mình có tươi cười đón nhau?
Hồng ơi! Xin em chớ có cơ cầu:
Bảo sao cũng cứ gật đầu cho tôi,
Ối thôi xong! Cửa đóng mất rồi.

CON HỒNG – Thưa cô, ta đi vào trong nhà, kẻo sợ bà quở! (Cùng Oanh Oanh đóng cửa mạch, vào).

CẬU TRƯƠNG:

Xì xào, chim vỡ tổ bay.
Rung rinh, cành động, bóng lay bốn bề.
Tơi bời, hoa rụng ngập lối đi.
Long lanh, sương ướt đầm đìa rêu xanh.
Chênh chênh, vầng nguyệt xế mành,
Bóng hoa rắc xuống rành rành đầy sân.
Tương tư, gầy đã mấy phần!
Đêm nay ta quyết một lần thử chơi;
...Rèm buông, then cửa đã cài,
Ta thời sẽ hỏi, mình thời sẽ thưa.
Đôi lòng đẹp ý, tình ưa,
Trăng trong, gió mát, trời vừa canh hai!
Nói lời nào đã được như lời,
Ta phường xấu số, mình người vô duyên!
Quay vào vơ vẩn trước hiên,
Sân không người vắng, đứng nhìn cảnh đêm:
Gió lay ngọn trúc quanh thềm,
Ngang trời mây bạc, ngập chìm ánh sao...
Mình không thương, ta sống được nào!
Bao nhiêu lạnh lẽo dồn vào đêm nay!
Có cần chi cuối mắt đầu mày,
Miệng mình chẳng nói, lòng đây ta đã từng!

Nhưng đêm nay thì ma ngủ nào là ám nổi mắt mình đây!

Đìu hiu, này gió thổi lùa!
Phập phồng, này giấy song hồ động bay!
Vắng tanh này bức bình vây!
Xanh lè, này ngọn đèn cây cạn dầu!
Tờ mờ, này đèn có sáng đâu!
Chập chờn, này giấc mộng đêm thâu chẳng thành!
Lẻ loi, này gối chiếc một mình!
Bẽ bàng, này chăn đệm năm canh lạnh lùng!
Ai người sắt đá, dễ cầm lòng chăng ai?
Hẳn có phen liều đón, hoa cười,
Màn buông cánh cuốn, đêm dài khắc canh,
Gấm hoa tô điểm tiền trình:
Non thề, bể hẹn ân tình đôi ta!
Hơi xuân đầm ấm một nhà,
Tình chung nhường ấy mới là tình chung!
Trăm năm đã tạc một chữ đồng:
Hai bài thơ chứng rõ đôi lòng khát khao!
Từ rày, chả cần tìm nhau trong giấc chiêm bao,
Chỉ cần ra dưới gốc bích đào đợi nhau!

Lời phê bình cả chương[sửa]

Đức Mạn Thù Thất Lợi bồ tát hay bàn về những cái rất nhỏ. Hồi xưa Thánh Thán được nghe, lấy làm thích lắm... Kìa như thế giới Sa bà, lớn đến nỗi không thể đo lường được, vậy mà duyên cớ lại bắt đầu từ cái rất nhỏ! Cho đến hết thảy các món có ở trong thế giới Sa Bà, duyên cớ nó cũng nhất nhất bắt đầu từ cái rất nhỏ cả! Câu chuyện đó to lắm, không thể đem ra chỗ này mà bàn được. Nay chỉ mượn lấy câu "rất nhỏ" của bồ tát, để xét đến ý niệm của người viết văn. Kìa như giữa thu xế chiều, trời đất trong suốt, mây nhẹ lăn tăn, nhỏ như cánh hoa, đó thực là cảnh rất đẹp ở trong đời. Vịt trời hàng đàn bay ngang không, người thuyền chài tung lưới bắt được. Xem lông bụng nó, phớt mầu mực loãng, lăn tăn cũng như mây trên trời, nhỏ như vân xuyến. Đó lại là cái rất đẹp ở trong đời... Hoa các loài cỏ cây, từ trong đài tràng, nở ra thành cánh. Nếu ta tỉ mỷ nhìn kỹ cánh của nó thì từ cuống lên đầu màu không nhất định. Đó cũng là rất đẹp ở trong đời... Ngọn đèn nhìn từ dưới lên trên: Chỗ gần bấc mầu hơi biêng biếc; lên chút nữa, mầu hơi trăng trắng; lại lên chút nữa, mầu hơi tia tía; lại len chút nữa thì mầu đỏ nhợt, rồi mới đến khói đen tuôn lên như bọt nhỏ. Đó cũng là cái rất đẹp ở trong đời... Lòng người đời bây giờ, dọc cao, ngang rộng, không biết là bao nhiêu dặm! Mông mông, mênh mênh, trâu ngựa cũng nhìn không rõ! Ví phỏng có ai nói cho nghe những chuyện ấy, thì có lẽ họ đã phanh ngực cả cười, cho rằng: người ta sinh ra ở trong đời, quý nhất là dư mặc, thừa ăn! Rỗi hơi đâu mà để bụng dạ vào những chuyện như thế! Họ không biết để bụng dạ vào những chuyện như thế, nào có phải là phí hoài đâu! Mây thu lăn tăn nhỏ như vân xuyến. Xuyến vì chỗ có, chỗ không chen nhau mà thành vân, song trong chỗ lăn tăn kia; thì có những là chỗ có chỗ không chen nhau mà thôi! Ta từ dưới này trông lên, cách mây không biết mấy trăm nghìn dặm, thì thấy cái lăn tăn kia, cách nhau không đầy một tấc. Thế nhưng nếu đến tận nơi mây mà đo, thì thực chưa biết là mấy tầm mấy trượng nữa. Nay ta thử nghĩ, nếu cách nhau hàng mấy tầm, mấy trượng, mà chỉ là chỗ có chỗ không chen nhau, thì ta từ dưới trông lên, quyết là không đẹp được đến thế. Nay từ dưới trông lên mà đẹp đến như thế, thì tất là giữa khoảng cái lăn tăn này với cái lăn tăn khác, tất có vô số tầng lớp, như liền với nhau, như theo với nhau. Cái gọi là rất nhỏ, chính ở chỗ đó, không thể không xét được. Cái lăn tăn của mây trên trời, cách nhau hàng tầm hàng trượng, cho nên khoảng giữa có nhiều tầng lớp. Cái đó cũng chưa đáng kể. Đến như cái lăn tăn ở lông bụng con vịt trời, cách nhau rất hẹp hòi, chỉ bằng độ hạt gạo hay hạt thóc! Nay thử xem nó sở dĩ đẹp như vân xuyến, có phải chỉ là vì chỗ có chỗ không chen nhau mà thôi sao? Nếu thật chỉ là vì chỗ có chỗ không chen nhau, thì ta thử lấy ngọn bút nhỏ, thấm chút mực lại vẽ từng nét một coi nào? Cớ sao đứa trẻ lên bảy cũng khúc khích cười là chẳng giống chút nào cả! Tiếc thay không có ai là Ly Châu để nhìn cho kỹ, nhận cho rõ đó thôi! Nếu nhìn kỹ nhận rõ ra, thì trong đó cũng có vô số tầng lớp, như liền với nhau; từ cái nọ lăn tăn đến cái kia, thật cũng chẳng khác gì cách nhau hàng trượng. Cái gọi là cái rất nhỏ, chính là ở đấy, không thể không xét được! Hoa các loài cỏ cây, từ trong đài, tràng, nẩy ra thành cánh … Thiên hạ cho rằng bấy nhiêu cánh, ấy là một hoa... Có biết đâu hôm qua có lẽ hoa ấy chưa có; lại hôm kia nữa, có lẽ đài cùng tràng cũng chưa có. Ở trong chỗ không đài không tràng không hoa, mà nẩy bật ra đài, nẩy bật ra tràng, lại nẩy bật ra hoa, trong khoảng đó tất có cái rất nhỏ, như người đi thong thả, dần dần tới xa. Vậy thì một cánh hoa tuy là nhỏ, nhưng từ cuống cánh đến đầu cánh, bắt đầu từ đây, tận cùng chỗ kia, tất phải gân chuyển mạch rung, sớm nhạt chiều thẫm, phấn non hương già... Tự ta coi thì một cánh hoa chỉ lớn bằng móng tay! Song tự hoa tính ra thì biết đâu đường lối chẳng xa xôi vượt bờ kia, sang đỗi nọ? Tự ta coi thì từ khi mới nở đến giờ chỉ trong chớp mắt! Song tự hoa tính ra thì biết đâu thọ mạnh chẳng lâu dài chồng đời nọ đến kiếp kia? Đó cũng là cái rất nhỏ không thể không xét được! Ngọn lửa trên bấc đèn coi nhàn nhạt, không biết trong năm màu ở thế gian đó là màu gì? Tôi thường nhìn kỹ từ đầu bấc lên đến hết chỗ khói; từ chỗ biêng biếc đến hết chỗ trăng trắng, nó giáp nhau ra làm sao; lại từ chỗ trăng trắng đến chỗ tia tía, nó giáp nhau ra làm sao; lại từ chỗ tia tía đến chỗ đỏ nhạt, từ chỗ đỏ nhạt đến chỗ khói đen, nó giáp nhau ra làm sao?... Trong chỗ giáp nhau đó tất có những cái rất nhỏ, ban đầu chia ra còn có thể chia được; nhưng lại thong thả mà chia ra nữa, thì khiến ta chẳng có thể chia ra được nào! Đó lại là một điều không thể không xét được! Nếu ta biết suy rộng tấm lòng ấy ra, thì cầm bút mà chép những câu mời chào nhau của người làng, người xóm, tất cũng có văn. Mà chép những tiếng cãi cọ nhau của nàng dâu, mẹ chồng, tất cũng có văn! Mà chép hai người gặp gỡ giữa đường, vái nhau xong đi thẳng, tất cũng có văn. Sao vậy? Trong đó tất có những cái rất nhỏ... Người khác nóng lòng chẳng xét, thì không sao viết được đành chịu gác bút bỏ đấy! Song ta từ dưới cửa bậc đại chí là đức Man Thù Thất Lợi bồ tát, học được phép ấy, thì tuy nhặt nắm cặn bã ở bên đường, ta cũng có thể ép ra được hàng chum nước! Trong đời này lại còn đầu đề nào nhỏ hẹp, đủ trói buộc cánh tay ta không cho nhúc nhắc nữa đâu! Đọc Mái Tây, đến chương "họa vần", sau chương "xin trọ", trước chương "quấy đám", bất giác tôi phải cảm mãi đến lời của Bồ Tát, lại xin nguyện các bạn tài tử gấm vóc trong thiên hạ đọc kỹ càng coi! - Trên là chương "xin trọ", phàm điều cậu Trương muốn nói đều đã nói hết! Dưới là chương "quấy đám", phàm điều cậu Trương chưa nói, đến đấy mới có thể nói được! Nay vào giữa khoảng hai chương đó, bỗng đem tả chuyện cách tường họa thơ, mà cũng muốn rồi rào tự thành một chương, thì thật là bút vướng mực khan, "nàng dâu khéo, nhưng không gạo nấu sao lên cháo!" Tác giả bỗng dưng nghĩ đến rằng: Đêm ấy Thôi, Trương họa thơ nhau, thì hai người tất là cùng ở dưới màn sương trong bóng nguyệt. Nhân bịa ra câu chuyện đêm nào cũng thắp hương, rồi do chỗ xem thắp hương mà sinh ra tình, mà bầy ra cảnh, tả nên những ý văn lạ lùng! Kẻ nóng lòng, không biết nỗi khổ tâm ấy, đọc lên chỉ biết đấy lại là ít câu hát hay! Có biết đâu một chữ, một câu, cho đến một tiết, đều là tách bóc ở trong một hạt nếp mà ra cả.