Tống nhân

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt Dịch nghĩa

香芹官道柳青青,
江北江南無限情。
上苑鶯嬌多妒色,
故鄉蓴老尚堪羹。
朝庭有道成君孝,
竹石多慚負爾盟。
惆悵深宵孤對影,
滿床滯雨不堪聽。

Hương Cần[1] quan đạo liễu thanh thanh
Giang bắc giang nam vô hạn tình
Thượng uyển oanh kiều đa đố sắc[2]
Cố hương thuần lão[3] thượng kham canh
Triều đình hữu đạo thành quân hiếu[4]
Trúc thạch[5] đa tàm phụ nhĩ minh
Trù trướng thâm tiêu cô đối ảnh
Mãn sàng trệ vũ bất kham thinh[6]

Trên đường cái quan Hương Cần liễu xanh xanh
Kẻ phía bắc sông, người phía nam sông, tình vô hạn
Những con oanh đẹp trong vườn vua ghen nhau vì sắc đẹp
Rau thuần già nơi quê cũ vẫn còn nấu canh được
Triều đình có đạo khiến anh tròn chữ hiếu
Rất thẹn cùng trúc đá vì lỗi lời thề
Bồi hồi ảo não, đêm sâu một mình đối bóng
Tiếng mưa dầm đầy giường nghe không chịu nổi

   




Chú thích

  1. Tên một làng cách Huế chừng bốn cây số về phía bắc, con đường thiên lí chạy ngang qua đó. Làng này nổi tiếng về quýt
  2. Hay ganh ghét nhau vì sắc đẹp. Ám chỉ các quan triều nhà Nguyễn thời bấy giờ, vì ganh tị nhau mà hãm hại nhau. Như vụ Lê Văn Duyệt, Nguyễn Văn Thành, vụ Lê Chất, Đặng Trần Thường, v.v...
  3. Trương Hàn 張翰 đời Tấn làm quan ở Lạc Dương 洛陽, một hôm nhìn gió thu thổi, nhớ rau thuần gỏi cá lô ở quê nhà, liền bỏ quan về
  4. Theo câu này thì người bạn của Nguyễn Du được triều đình cho cáo quan về phụng dưỡng cha mẹ già
  5. Thú ẩn dật. Đã cùng khóm trúc tảng đá hẹn hò chung sống với nhau thế mà đành phụ để ra làm quan
  6. Câu này vừa tả tình biệt li vừa tả nỗi lòng chua xót cho thân phận. Lại vừa tả cảnh đêm tiễn bạn đi, vừa tả cảnh tác giả đương sống ở kinh đô