Thương Ngô mộ vũ

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt Dịch nghĩa

雨滯潯江曉發遲
梧城薄暮尚霏霏
一江新潦平三楚
大半浮雲駐九疑
窄窄小舟難過夏
鬖鬖長髮自知夷
平波日暮湘潭遠
杯酒憑欄弔二妃

Vũ trệ Tầm giang[1] hiểu phát trì
Ngô thành bạc mộ thượng phi phi
Nhất giang tân lạo bình Tam Sở[2]
Đại bán phù vân trú Cửu Nghi[3]
Trách trách tiểu chu nan quá Hạ[4]
Sam sam trường phát tự tri Di[5]
Bình ba nhật mộ Tương Đàm[6] viễn
Bôi tửu bằng lan điếu nhị phi[7].

Trời mưa phải dừng lại ở sông Tầm, lúc sáng khởi hành muộn.
Gần chiều, trên thành Thương Ngô vẫn còn mưa tầm tã.
Lũ mới đổ về, nước sông tràn ngập đất Sở,
Phần lớn mây bao trùm núi Cửu Nghi,
Ta ngồi trong thuyền nhỏ chật hẹp khó qua được đất Hạ (hoa hạ),
Búi tóc dài nói rõ ta là người nước khác (di).
Sóng lặng trời tối mà Tương Đàm còn xa,
Đành rót rượu viếng hai bà phi vậy.

   




Chú thích

  1. Tên con sông thuộc huyện Quế Bình, tỉnh Quảng Tây, chảy qua Thương Ngô
  2. Ba vùng đất Tây Sơ, Nam Sở, và Đông Sở, nay thuộc Hồ Nam, Hồ Bắc
  3. Núi có chín ngọn cao ở huyện Ninh Viễn tỉnh Hồ Nam
  4. Đất Hoa Hạ
  5. Người Trung Hoa ngày xưa gọi những dân tộc ở phía đông là man di
  6. Tức Trường Sa ở Hồ Nam, có sông Mịch La là nơi Khuất Nguyên tự trầm
  7. Chỉ hai bà phi của vua Thuấn, tức Nga Hoàng và Nữ Anh. Vua Thuấn đi tuần phương nam, chết ở Thương Ngô. Hai phi đi tìm, khóc nước mắt nhỏ xuống những cây trúc thành vết lốm đốm và tự trầm chết theo chồng bên dòng sông Tương