Thượng nguyên hỗ giá chu trung tác

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt Dịch nghĩa

沿江千里燭光紅
彩鷁乘風跨浪篷
十丈樓臺消蜃氣
三更鼓角壯軍容
滄波月浸玉千頃
仙杖雲趨天九重
五夜篷窗清夢覺
猶疑長樂隔花鐘

Diên giang thiên lý chúc quang hồng ;
Thái ích thừa phong khóa lãng bồng.
Thập trượng lâu đài tiêu thẫn khí[1] ;
Tam canh cổ dốc tráng quân dung.
Thương ba nguyệt tẩm ngọc thiên khoảnh ;
Tiên trượng[2] vân xu thiên cửu trùng[3].
Ngũ dạ bồng song thanh mộng giác,
Do nghi Trường lạc[4] cách hoa chung.

Dọc sông nghìn dặm ánh sáng đuốc đỏ,
Thuyền vẽ chim ích thuận gió lướt sóng đi.
Lâu đài thẫn khí mười trượng tiêu tan hết;
Ba canh trống và tù và làm mạnh oai quân.
Sóng biếc dầm mặt trăng, ngọc sáng nghìn khoảnh;
Gậy tiên như mây lướt, trên chín tầng trời.
Canh năm bên cửa sổ thuyền chợt tỉnh mộng nhẹ,
Còn ngờ tiếng chuông ở cung Trường-lạc cách hoa.

   




Chú thích

  1. Thẫn khí: Khi mặt biển lặng thanh người ta thấy hình như có bóng lâu đài thành quách, hiện tượng ảo ảnh ấy người xưa cho là do loài thẫn hay loài giao long nhả hơi ra (thẫn khí) mà thành. Người ta cũng gọi là thẫn lâu. Câu này có ý nói đuốc sáng rưng như thế khiến những lâu đài ảo ảnh kia tan hết
  2. Tiên trượng: nghi trượng của nhà vua. Câu này ý nói nghi trượng lươn lướt kéo đi như mây
  3. Thiên cửu trùng: chỉ nhà vua
  4. Trường Lạc: Cung Trường Lạc do Hán Cao Tổ ở Trung Quốc dựng, làm chỗ triều hội ở thời Hán sơ