Thứ vận Trần thượng thư đề Nguyễn bố chánh thảo đường

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt Dịch nghĩa

一心報國尚桓桓
小構茆亭且自寬
薇省退歸花影轉
金門夢覺漏聲殘
琴書雅趣真堪尚
松菊歡盟亦未寒
後樂想知終有意
好將事業百年看

Nhất tâm báo quốc thượng hoàn hoàn;
Tiểu cấu mão đình thả tự khoan.
Vi sảnh[1] thoái qui hoa ảnh chuyển[2] ;
Kim môn[3] mộng giác lậu thanh tàn[4].
Cầm thư nhã thú chân kham thượng ;
Tùng cúc hoan minh diệc vị hàn.
Hậu lạc[5] tưởng tri chung hữu ý ;
Hảo tương sự nghiệp bách niên khan.

Một lòng báo quốc vẫn còn hăng hái;
Dựng nhà tranh nhỏ để tự khuây lòng.
Khi ở Vi sảnh lui về thì bóng hoa đã chuyển;
Ở Kim môn mộng tỉnh thì tiếng lậu đã tàn.
Cái nhã thú cầm thư thực là đáng chuộng ;
Lời hẹn vui với tùng cúc cũng chưa nguôi lòng.
Vui sau tưởng cũng biết rốt cuộc là có ý;
Hãy đem sự nghiệp trọn đời mà xem.

   




Chú thích

  1. Vi sảnh: Ở đời Đường, Trung thư sảnh là nơi làm chính sự của nhà nước, cũng gọi là Tử vi sảnh, sau gọi tắt là Vi sảnh
  2. Hoa ảnh chuyển: tức trời về chiều
  3. Kim môn: tức Kim mã môn, đời Hán Vũ Đế các quan học sĩ đợi chiếu vua ở đấy
  4. Lậu canh tàn: tiếng lậu đã tàn, tức nước ở lậu đã cạn nên giọt nước không kêu thánh thót nữa, đó là đồng hồ nước, khi lậu cạn hết nước thì phải đổ nước vào. Xưa người ta cũng dùng đồng hồ cát, hay bình lậu cát, khi nào cát ở ngăn trên chảy hết xuống ngăn dưới thì lại xoay trở lại cho ngăn dưới lên trên
  5. Câu của Phạm Trọng Yêm: « Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu; Hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc » (Lo trước cái lo của thiên hạ; Vui sau cái vui của thiên hạ)