Thanh minh (Nguyễn Trãi)

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt Dịch nghĩa

一從淪洛他鄉去
屈指清明幾度過
千里墳塋違拜掃
十年親舊盡消磨
乍晴天氣模稜雨
過半春光廝句花
聊把一杯還自彊
莫教日日苦思家

Nhất tòng luân lạc tha hương khứ,
Khuất chỉ thanh minh kỷ độ qua.
Thiên lý phần uynh vi bái tảo;
Thập niên thân cựu tận tiêu ma.
Sạ tình thiên khí mô lăng vũ[1] ;
Quá bán xuân quang tê cú[2] hoa.
Liêu bả nhất bôi hoàn tự cưỡng.
Mạc giao nhật nhật khổ tư gia.

Kể từ khi lưu lạc ra làng khác.
Đếm đốt ngón tay thanh minh đã qua mấy lần.
Xa nghìn dặm mồ mả không được lạy quét ;
Trải mười năm thân cựu đã thảy hao mòn.
Chợt tạnh khí trời vào tiết mưa rào ;
Đã quá nửa xuân hoa tê cú nở.
Khuây nâng một chén phải cố gượng uống,
Để đừng có ngày ngày khổ về nhớ nhà.

   




Chú thích

  1. Mô lăng vũ: mô lăng là sờ cạnh, ý là không dứt khoát, có cũng được, không cũng được. « Mô lăng vũ » là mưa đó mà tạnh đó, tức là mưa rào. Câu thơ này ý nói Thanh minh vào tiết tháng ba là tiết mưa rào, trời chợt tạnh đó, nhưng chưa chắc lại chợt mưa lúc nào
  2. Tê cú: Bản in chữ Hán có lời chú là hoa đồ mi. Ở Trung Quốc xưa trong tiết Thanh minh vua thường đem rượu đồ mi cho bầy tôi uống, do đó đây đúng là hoa đồ mi để chỉ tiết Thanh minh. Mồng 3 tháng 3 âm lịch là quá nửa mùa xuân