Thu dạ khách cảm (I)

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt Dịch nghĩa

旅舍蕭蕭席作門
微吟袖手過黃昏
秋風落葉羈情思
夜雨青燈客夢魂
亂後逢人非夙昔
愁中送目寓乾坤
到頭萬事皆虛幻
休論凡亡與楚存

Lữ xá tiêu tiêu tịch tác môn ;
Vi ngâm tụ thủ[1] quá hoàng hôn.
Thu phong lạc diệp ky tình tứ ;
Dạ vũ thanh đăng[2] khách mộng hồn.
Loạn hậu phùng nhân phi túc tích ;
Sầu trung tống mục ngụ càn khôn.
Đáo đầu vạn sự giai hư huyễn,
Hưu luận Phàm vong dữ Sở tồn[3].

Quán khách tiêu điều treo chiếu làm cửa ;
Ủ tay vào tay áo ngâm nhỏ qua buổi hoàng hôn.
Gió thu lá rụng xào xạc gợi tình lữ thứ ;
Đêm mưa đèn xanh leo lét khiến khách chiêm bao.
Sau loạn gặp người không ai là quen cũ ;
Trong sầu đưa mắt ngụ ý vào càn khôn (trời đất).
Cuối cùng mọi việc đều là hư ảo ;
Thôi đừng bàn chuyện Phàm mất với Sở còn.

   




Chú thích

  1. Tự thủ: nghĩa là chắp tay mà lồng bàn tay vào tay áo để ủ cho ấm
  2. Thanh đăng: đèn xanh, đèn leo lét trong đêm khuya, tả cảnh cô đơn. Trong Quốc âm thi tập Nguyễn Trãi nói « đèn lạnh » là theo nghĩa ấy (câu 6 bài 46, câu 4 bài 120)
  3. Sách Trang Tử thiên « Điền Tử Phương » nói: Vua nước Sở ngồi với quân trưởng nước Phàm. Người tả hữu vua Sở nói: « Có ba triệu chứng tỏ nước Phàm phải mất ». Quân trưởng nước Phàm nói: « Nước Phàm có mất cũng không đủ để mất cái còn của tôi; nước Sở có còn cũng không đủ để còn cái còn; do đó mà xem thì Phàm chưa hẳn mất, Sở chưa hẳn còn », ý nói mất chưa hẳn là mất, còn chưa hẳn là còn