Thu dạ khách cảm (II)

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt Dịch nghĩa

西風撼樹響錚錚
搖落聲悲久客情
黃葉滿庭秋過半
青燈和雨夜三更
病多骨瘦眠應少
官冷身閒夢亦清
一念息來千念息
雞虫自此了相爭

Tây phong hám thụ hưởng tranh tranh[1];
Dao lạc thanh bi cửu khách tình.
Hoàng diệp mãn đình thu quá bán ;
Thanh đăng hòa vũ dạ tam canh[2].
Bệnh đa cốt sấu miên ưng thiểu;
Quan lãnh thân nhàn mộng diệc thanh.
Nhất niệm tức lai thiên niệm tức;
Kê trùng[3] tự thử liễu tương tranh.

Gió tây lay cây tiếng tưng tưng,
Tiếng buồn dào dạt gợi tình người lâu ngày làm khách.
Lá vàng rụng đầy sân thu đà quá nửa ;
Đèn xanh hòa tiếng mưa, đêm đã canh ba.
Bệnh lắm xương gầy nên ngủ phải ít ;
Quan rảnh thân nhàn mộng cũng nhẹ nhàng.
Dứt được một niềm nghĩ thì nghìn niềm đều dứt ;
Gà và bọ từ đây thôi đừng tranh nhau làm gì.

   




Chú thích

  1. Bản Dương Bá Cung chép là « đề tranh 提 錚 », các bản khác chép là 錚 錚 là tiếng đàn tưng tưng
  2. Dạ tam canh: đến canh ba là trời đã khuya lắm mà chưa sáng
  3. Kê trùng: Đỗ Phủ có bài thơ « Phược kê hành » (Bài hát trói gà) có câu: « Kê trùng đắc thất vô liễu thi », nghĩa là gà và bọ được thua không bao giờ xong, vì rằng gà ăn bọ, rồi người trói gà, được đó rồi lại mất đó