Trang:Au hoc khai mong.pdf/4

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Trang này đã được phê chuẩn.


LỜI KHUYÊN

Làm người đi học phải cho thông,
Nghĩa lý đông tây nam bắc đồng,
Diễn dịch rõ ràng coi dễ hiểu,
Khuyên đoàn sỉ tử khá gia công.

ĐẶNG-QUẤC-THOẠI.


Văn pháp, (1) lục thơ, (2) điển cố, (3) thông,[1]
Kể mười người một, tới nên đồng,
Yên trên trị dưới, ai không chịu?
Vậy thảo là hay, phải gắn công.[2]

thế tải, TRƯƠNG-MINH-KÝ.


Ngoài năm kinh có Hiếu kinh thông,
Dạy dỗ người trong đạo nghĩa đồng,
Song phải nhớ thời, Phu tử trước,
Mới hay công diễn rất nên công.

ĐẶNG-THÚC-LIÊN.


  1. Học chữ tàu, phải xét cho rỏ ba đều: 1∘ Văn pháp: cho biết chữ nào phải đặt chỗ nào, cho trúng cách, theo như người tàu. Như: 1 Văn 2 vương 3 ưu 4 dân 5 chi 6 ưu, 7 dân 8 diệc 9 ưu 10 kỳ 11 ưu.— 2 Vua 1 Văn 3 lo 6 việc lo 5 của 4 dân, 7 dân 8 cũng 9 lo 11 việc lo 10 của người.— 2∘ Lục thơ: tượng hình, Như: Ngưu, ngư; chỉ sự hay là xử sự. Như: thượng, hạ; hội ý. Như: lâm = rừng, minh = sáng; hài thinh hay là hình thinh. Như: hà = sông, quốc = nước; chuyển chú. Như: Nhạc, lạc; giả tá. Như: Vật = cờ, giả mượn làm vật = chớ; nhi = ria, làm nhi = mà; chi = cỏ, làm chi = đó v.v.— 3∘ Điển cố, là phải coi cổ văn cho nhớ lời hay tiếng tốt, người xưa nói mà nói theo; vì cũng là lời nói, mà có người khéo nói, ai ai cũng chịu. Như đồ khéo, tuy ít tay làm đặng, mà ai coi tới, lại không cho là khéo? Món ngon, ăn tới, ai chẳng lấy làm ngon?
  2. Trong Hiếu Kinh, có nhiều câu, hiểu đặng hai thế. Ấy nên học phải cho có ý. Như: Ái thân giả bất cảm ố ư nhơn, kẻ thương cha mẹ chẳng dám để cho người ta ghét; kỉnh thân giả bất cảm mạn ư nhơn; kẻ kính cha mẹ chẳng dám để cho người ra khinh dễ.— Hiếu tử, chi táng thân dã, khốc bất ỷ; con thảo nó mất cha mẹ vậy, (thì) khóc tắc tiếng; v.v.

Hiếu kinh thông, tứ thơ thục; như lục kinh, thỉ khả độc.
Lorsqu'on a bien compris le livre de la Piété filiale, et qu'on sait par cœur les quatre livres classiques, on commence à pouvoir lire les six livres canoniques.

Tam tự kinh


Les Chinois écrivent de haut en bas et de droite à gauche. En écrivant les cadactères chinois, le pinceau se tient perpendiculairement. La pointe du pinceau roit former un angle droit avec le papier.