Công ước Berne về Bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật/Điều 22 đến 38

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Điều 22[sửa]

(1)

(a) Liên Hiệp thành lập một Hội đồng bao gồm những nước thành viên bị ràng buộc bởi các Điều từ 22 đến 26.
(b) Chính phủ của mỗi nước có một đại diện, một số trợ lý cho đại diện, cố vấn và chuyên gia.
(c) Kinh phí của mỗi phái đoàn sẽ do Chính phủ bổ nhiệm phái đoàn đài thọ.

(2)

(a) Hội đồng có trách nhiệm:
(i) xem xét mọi vấn đề liên quan đến việc duy trì và phát triển Liên hiệp cũng như việc áp dụng Công ước này;
(ii) chỉ đạo Văn Phòng Quốc tế về sở hữu trí tuệ (từ đây gọi tắt là "Phòng Quốc tế") được nói đến trong Công ước thành lập Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (từ đây gọi tắt là "Tổ chức") chuẩn bị nội dung cho những hội nghị nghiên cứu sửa đổi Công ước sau khi đã tham khảo những ý kiến của các nước thành viên Liên hiệp không bị ràng buộc bởi các Điều từ 22 đến 26.
(iii) xét duyệt báo cáo và hoạt động của Tổng giám đốc của Tổ chức có liên quan đến Liên hiệp và chỉ đạo Tổng giám đốc giải quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của Liên hiệp;
(iv) bầu các thành viên của Ban chấp hành Hội đồng;
(v) xét duyệt báo cáo và hoạt động của Ban chấp hành và chỉ đạo hoạt động của Ban chấp hành;
(vi) hoạch định chương trình và thông qua ngân sách "hai năm" của Liên hiệp, xét duyệt bản kết toán;
(vii) thông qua những quy định về tài chính của Liên hiệp;
(viii) thành lập các ban chuyên gia và các nhóm làm việc cho Liên hiệp;
(ix) xác định những nước không phải thành viên Liên hiệp, các tổ chức liên quốc gia và các tổ chức quốc tế phi chính phủ được mời dự các cuộc họp của Hội đồng với tư cách là quan sát viên;
(x) thông qua các sửa đổi liên quan đến các Điều từ 22 đến 26;
(xi) xem xét các biện pháp hoạt động nhằm đạt các mục tiêu của Liên hiệp;
(xii) thực thi các chức năng thích hợp của Công ước;
(xiii) Tuân thủ sự chấp nhận và thực thi những quyền hạn mà Tổ chức trao cho Hội đồng.
(b) Về các vấn đề có liên quan đến quyền lợi của các Liên hiệp khác do Tổ chức điều hành, Hội đồng sẽ quyết sau khi đã nghe ý kiến tư vấn của Ban điều phối của Tổ chức.

(3)

(a) Mỗi thành viên của Hội đồng sẽ được sử dụng một phiếu bầu.
(b) Một nửa số thành viên Hội đồng sẽ tạo nên số đại biểu tối thiểu cần thiết để tiến hành biểu quyết.
(c) Mặc dầu có những quy định ở khoản (b), nếu trong một khoá họp, số đại biểu ít hơn một phần nửa nhưng lại bằng hay quá một phần ba tổng số các nước thành viên của Hội đồng thì Hội đồng có thể ra quyết định; Tuy nhiên, trừ các quyết định liên quan đến thủ tục của các Hội đồng, tất cả các quyết định khác sẽ chỉ có hiệu lực khi các điều kiện sau đây được thoả mãn: Phòng Quốc tế sẽ thông báo các quyết định nói trên cho các nước hội viên của Hội đồng không tham gia kỳ họp đó và yêu cầu các nước này biểu quyết bỏ phiếu hay bỏ phiếu trắng trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày ghi trên thông báo. Nếu hết thời hạn đó, số các nước biểu quyết bỏ phiếu hay bỏ phiếu trắng như trên đạt được ít nhất con số còn thiếu để phiên họp đạt số đại biểu tối thiểu, thì những quyết định trên sẽ có hiệu lực miễn là có đa số phiếu thuận cần có.
(d) Ngoài những quy định ở Điều 26(2), các quyết định của Hội đồng phải đạt hai phần ba số phiếu bầu.
(e) Phiếu trắng sẽ không được coi là phiếu bầu.
(f) Một đại biểu chỉ có thể đại diện một nước và bỏ phiếu nhân danh nước đó.
(g) Các nước Liên hiệp nếu không phải là thành viên của Hội đồng sẽ được tham gia các cuộc họp của Hội đồng với tư cách là quan sát viên.

(4)

(a) Hội đồng sẽ họp khoá thường kỳ ba năm một lần theo triệu tập của Tổng giám đốc và trừ trường hợp đặc biệt, sẽ họp vào cùng một thời gian và ở cùng một địa điểm với Đại hội đồng của Tổ chức.
(b) Hội đồng sẽ họp khoá bất thường theo triệu tập của Tổng giám đốc, thể theo yêu cầu của Ban Chấp hành hoặc yêu cầu của một phần tư số các nước thành viên của Hội đồng.

(5) Hội đồng sẽ thông qua những quy định của mình.

Điều 23[sửa]

(1) Hội đồng thành lập một Ban chấp hành

(2)

(a) Ban chấp hành gồm các nước được Hội đồng bầu ra trong số các nước thành viên của Hội đồng. Ngoài ra, nước nơi Tổ chức đặt trụ sở, đương nhiên giữ một ghế trong Ban chấp hành, trừ trường hợp quy định ở Điều 25(7)(b).
(b) Chính phủ của mỗi nước thành viên của Ban chấp hành được cử một đại diện. Đại biểu này có thể có trợ lý, cố vấn và chuyên gia.
(c) Kinh phí của đoàn đại biểu sẽ do chính phủ đã bổ nhiệm đoàn đài thọ.

(3) Số các nước thành viên Ban chấp hành sẽ tương đương với một phần tư số các nước thành viên của Hội đồng. Khi xác định số ghế được bầu thì sau khi chia bốn, con số dư còn lại coi như không tính.

(4) Khi bầu thành viên của Ban chấp hành, Hội đồng sẽ lưu tâm tới sự phân phối quân bình theo địa lý cũng như sự cần thiết có mặt trong Ban chấp hành những nước có ký thoả hiệp riêng với nhau liên quan đến Liên hiệp.

(5)

(a) Nhiệm kỳ của mỗi thành viên của Ban chấp hành bắt đầu từ cuối kỳ họp mà Hội đồng đã bầu thành viên đó cho đến lúc kết thúc khoá họp thường kỳ tiếp theo của Hội đồng.
(b) Những thành viên của Ban chấp hành có thể được tái cử, nhưng số tái cử không được quá hai phần ba số thành viên.
(c) Hội đồng sẽ quy định các thể thức bầu cử và tái cử các thành viên Ban chấp hành, nếu cần.

(6)

(a) Ban chấp hành có trách nhiệm:
(i) dự thảo chương trình nghị sự của Hội đồng;
(ii) đệ trình lên Hội đồng các đề nghị liên quan đến dự thảo chương trình hoạt động và ngân sách hai năm của Liên hiệp đã được Tổng giám đốc chuẩn bị;
(iii) [Bỏ]
(iv) đệ trình lên Hội đồng và cho ý kiến về các báo cáo định kỳ của Tổng giám đốc, cũng như những báo cáo thường niên về việc kiểm toán tài khoản;
(v) phát huy mọi biện pháp cần thiết để Tổng giám đốc thực hiện đúng đắn chương trình của Liên hiệp phù hợp với các quyết định của Hội đồng và thích ứng với mọi tình huống nảy sinh giữa hai khoá họp thường kỳ của Hội đồng;
(vi) hoàn thành mọi trách nhiệm khác được giao phó trong phạm vi của Công ước này.
(b) Về các vấn đề có liên quan đến các Liên hiệp khác do Tổ chức điều hành, Ban chấp hành sẽ quyết định sau khi nghe ý kiến tư vấn của Uỷ Ban điều phối của Tổ chức;

(7)

(a) Ban chấp hành sẽ họp khoá thường kỳ mỗi năm một lần do Tổng giám đốc triệu tập. Cuộc họp nên tiến hành cùng một lúc và cùng một địa điểm với Ban điều phối của Tổ chức;
(b) Ban chấp hành họp khoá bất thường khi có triệu tập của Tổng giám đốc, do chính Tổng giám đốc đề xướng, hoặc theo yêu cầu của Chủ tịch Ban chấp hành hoặc của một phần tư số thành viên trong Ban chấp hành.

(8)

(a) Mỗi nước thành viên Ban chấp hành được sử dụng một phiếu bầu.
(b) Một nửa số thành viên Ban chấp hành tạo nên số đại biểu cần thiết để tiến hành biểu quyết.
(c) Các quyết định sẽ được biểu quyết theo đa số tương đối của các phiếu bầu.
(d) Phiếu trắng sẽ không được coi là phiếu bầu.
(e) Một đại biểu chỉ có thể đại diện cho một nước và bỏ phiếu nhân danh nước đó.

(9) Các nước thành viên Liên hiệp không phải là thành viên của Ban chấp hành được quyền tham dự các cuộc họp của Ban chấp hành với tư cách quan sát viên.

(10) Ban chấp hành thông qua những quy định của mình.

Điều 24[sửa]

(1)

(a) Các nhiệm vụ hành chính của Liên hiệp do Phòng Quốc tế đảm nhiệm. Phòng này kế thừa Văn phòng Liên hiệp, phối hợp với Văn phòng của Liên hiệp được thiết lập bởi Công ước quốc tế về bảo hộ sở hữu công nghiệp.
(b) Phòng Quốc tế chủ yếu phụ trách công việc văn phòng cho các cơ quan của Liên hiệp.
(c) Tổng giám đốc của Tổ chức là vị công chức cao cấp nhất của Liên hiệp và là đại diện của Liên hiệp.

(2) Phòng Quốc tế thu thập và phổ biến các thông tin liên quan đến việc bảo hộ quyền tác giả. Mỗi nước thành viên Liên hiệp thông báo kịp thời cho Phòng Quốc tế tất cả các luật lệ mới cũng như các văn bản chính thức liên quan đến việc bảo hộ quyền tác giả.

(3) Phòng Quốc tế xuất bản một tạp chí định kỳ hàng tháng.

(4) Phòng Quốc tế cung cấp cho các nước thành viên Liên hiệp, nếu họ yêu cầu, những thông tin về các vấn đề có liên quan đến việc bảo hộ quyền tác giả.

(5) Phòng Quốc tế sẽ tiến hành nghiên cứu và cung cấp dịch vụ nhằm tạo thuận lợi cho việc bảo hộ quyền tác giả.

(6) Tổng giám đốc và những nhân viên do Tổng giám đốc chỉ định được tham gia, nhưng không có quyền bỏ phiếu, vào tất cả các cuộc họp của Hội đồng, của Ban chấp hành và của các ban chuyên gia hay nhóm công tác. Tổng giám đốc hay nhân viên do Tổng giám đốc chỉ định đương nhiên là thư ký của các cơ quan này.

7

(a) Phòng Quốc tế chịu trách nhiệm chuẩn bị các Hội nghị để nghiên cứu sửa đổi các điều khoản khác của Công ước ngoài các Điều từ 22 đến 26, theo chỉ thị của Hội đồng và với sự cộng tác của Ban chấp hành.
(b) Phòng Quốc tế có thể tham khảo ý kiến các Tổ chức liên chính phủ và các Tổ chức quốc tế phi chính phủ về việc chuẩn bị các hội nghị nghiên cứu sửa đổi.
(c) Tổng giám đốc và những người do Tổng giám đốc chỉ định được tham gia nhưng không có quyền bỏ phiếu vào các cuộc thảo luận ở các Hội nghị đó.

(8) Phòng Quốc tế thi hành bất kỳ nhiệm vụ nào khác được giao.

Điều 25[sửa]

(1)

(a) Liên hiệp có ngân sách riêng.
(b) Ngân sách của Liên hiệp gồm số thu và số chi riêng của Liên hiệp cùng với phần đóng góp của Liên hiệp vào ngân sách chi tiêu chung của các Liên hiệp, và khi cần sẽ có một khoản ngân sách dành cho Hội nghị của Tổ chức.
(c) Các khoản chi tiêu chung của các Liên hiệp không chỉ có những khoản chi tiêu dành riêng cho một mình Liên hiệp mà còn cả các khoản dành cho một hoặc nhiều Liên hiệp khác cùng do Tổ chức điều hành. Phần của Liên hiệp trong các khoản chi tiêu chung cân xứng với những lợi ích do sự chi tiêu này mang lại cho Liên hiệp.

(2) Ngân sách của Liên hiệp được hoạch định theo những đòi hỏi thích đáng về sự phối hợp các ngân sách của các Liên hiệp khác cùng do Tổ chức điều hành.

(3) Nguồn ngân sách của Liên hiệp gồm:

(i) những đóng góp của các nước thành viên Liên hiệp;
(ii) các phí và các khoản thù lao thu được qua dịch vụ của Phòng Quốc tế đối với Liên hiệp;
(iii) tiền bán và tiền bản quyền của các ấn phẩm của Phòng Quốc tế có liên quan đến Liên hiệp;
(iv) quà biếu, tặng theo chúc thư và tiền trợ cấp;
(v) tiền cho thuê, lợi tức và thu nhập từ nhiều khoản khác.

(4)

(a) Nhằm mục đích phân bổ sự đóng góp của các nước thành viên cho ngân sách, mỗi nước thành viên của Liên hiệp được xếp loại vào một nhóm và đóng góp niên liễm hàng năm trên cơ sở số đơn vị được ấn định như sau:
Hạng Số đơn vị
Hạng I 25
Hạng II 20
Hạng III 15
Hạng IV 10
Hạng V 5
Hạng VI 3
Hạng VII 1
(b) Nếu chưa được xếp hạng, mỗi nước khi nộp văn bản phê chuẩn hay gia nhập, nêu rõ mình muốn được xếp vào hạng nào. Thứ hạng có thể thay đổi. Nếu muốn chọn một hạng thấp hơn thì phải thông báo cho Hội đồng biết vào một trong các khoá họp thường kỳ của Hội đồng. Sự thay đổi có hiệu lực vào đầu năm sau kỳ họp đó.
(c) Niên liễm của mỗi nước là một khoản tiền có tỷ lệ với số đơn vị tính cho nước đó trong tổng số tiền do tất cả các nước đóng góp vào ngân sách hàng năm, tương đương với tỷ lệ giữa các số đơn vị của thứ hạng nước đó chọn với tổng số các đơn vị của tất cả các nước.
(d) Kỳ hạn đóng góp là ngày 1 tháng 1 mỗi năm.
(e) Nước không đóng góp niên liễm của mình thì sẽ không được bỏ phiếu ở bất kỳ cơ quan nào của Liên hiệp mà nước đó là thành viên, nếu số tiền còn thiếu đó tương đương hoặc lớn hơn số niên liễm nước đó phải đóng trong hai năm vừa qua. Tuy nhiên, bất kỳ một cơ quan nào của Liên hiệp đều có thể cho phép nước đó tiếp tục được bỏ phiếu ở cơ quan đó, nếu cơ quan đó chấp nhận rằng sự đóng góp chậm trễ là do hoàn cảnh đặc biệt và không thể tránh khỏi.
(f) Trong trường hợp một ngân sách chưa được thông qua trước khi bắt đầu tài khoá mới, thì ngân sách năm trước sẽ tiếp tục được áp dụng theo đúng thể thức tài chính.

(5) Bản khai phí và chi phí dịch vụ do Phòng Quốc tế chuyển lên Liên hiệp phải được Tổng giám đốc duyệt và báo cáo lên Hội đồng và Ban chấp hành.

(6)

(a) Liên hiệp có một quỹ hoạt động do các nước thuộc Liên hiệp đóng góp. Nếu quỹ không đủ chi thì Hội đồng sẽ quyết định tăng mức đóng góp.
(b) Khoản đóng góp ban đầu hoặc sau khi tăng cho quỹ nói trên của mỗi nước sẽ tỷ lệ với phần đóng góp của nước đó trong năm thành lập quỹ hoặc sau khi quyết định tăng mức đóng góp.
(c) Tỷ lệ và thể thức đóng tiền do Hội đồng quy định theo đề nghị của Tổng giám đốc và sau khi nghe ý kiến tư vấn của Uỷ ban điều phối của Tổ chức.

(7)

(a) Trong Hiệp định về trụ sở được ký kết với nước sở tại của Tổ chức quy định rằng, nếu quỹ hoạt động không đủ chi, nước sở tại sẽ tạm ứng một số tiền. Mức tiền ứng trước và điều kiện tạm ứng được quy định trong thoả thuận riêng giữa nước sở tại và Tổ chức. Chừng nào nước sở tại còn có nhiệm vụ ứng tiền trước, thì nước đó đương nhiên có một ghế trong Ban chấp hành.
(b) Nước nói ở điểm (a) và Tổ chức đều có quyền tuyên bố bãi bỏ cam kết tạm ứng bằng một văn bản. Việc bãi bỏ có hiệu lực sau ba năm kể từ cuối năm đưa ra thông báo bãi bỏ.

(8) Việc kiểm toán tài khoản được tiến hành theo quy định tài chính bởi một hoặc nhiều nước Liên hiệp, hoặc bởi chuyên gia kiểm toán bên ngoài do Hội đồng chỉ định, với sự chấp nhận của đương sự.

Điều 26[sửa]

(1) Các đề nghị sửa đổi các Điều 22, 23, 24, 25 và Điều này có thể do bất kỳ nước thành viên Hội đồng nào hoặc do Ban chấp hành hoặc do Tổng giám đốc đưa ra. Những đề nghị này sẽ được Tổng giám đốc thông báo cho các nước thành viên của Hội đồng ít nhất là sáu tháng trước khi đưa ra Hội đồng xem xét.

(2) Mọi sửa đổi các Điều nói ở khoản (1) sẽ do Hội đồng thông qua. Để được thông qua phải đạt ba phần tư số phiếu bầu, riêng những sửa đổi Điều 22 và khoản này muốn được thông qua phải đạt bốn phần năm phiếu bầu nhất trí.

(3) Mọi sửa đổi ở các Điều nói ở khoản (1) có hiệu lực một tháng sau khi Tổng giám đốc nhận được các văn bản thông báo chấp thuận của ba phần tư số nước thành viên của Hội đồng vào thời điểm thông qua những điểm sửa đổi, theo đúng với quy định của từng nước. Mọi sửa đổi các Điều nói trên, một khi được chấp thuận sẽ ràng buộc tất cả các nước đã là thành viên của Hội đồng vào thời điểm sự thay đổi đó có hiệu lực hoặc sẽ là thành viên sau đó. Riêng những thay đổi về việc tăng các nghĩa vụ tài chính cho các nước Liên hiệp thì chỉ ràng buộc những nước đã thông báo rằng mình chấp thuận sửa đổi đó.

Điều 27[sửa]

(1) Công ước này có thể được đệ trình để nghiên cứu sửa đổi với mục đích cải tiến kiện toàn hệ thống của Liên hiệp.

(2) Với mục đích này Hội nghị đại biểu của các Liên hiệp sẽ lần lượt họp tại một trong những nước Liên hiệp.

(3) Ngoài những quy định ở Điều 26 áp dụng cho việc sửa đổi các Điều từ 22 đến 26, bất kỳ sự điều chỉnh nào trong Đạo luật này, kể cả Phụ lục, phải đạt được sự nhất trí của các phiếu bầu.

Điều 28[sửa]

(1)

(a) Bất kỳ nước nào trong Liên hiệp đã ký Đạo luật này đều có thể phê chuẩn Đạo luật, và nếu chưa ký, có thể gia nhập Đạo luật. Các văn bản phê chuẩn hay gia nhập đều phải gửi cho Tổng giám đốc.
(b) Mọi nước thành viên của Liên hiệp đều có quyền tuyên bố trong văn bản phê chuẩn hoặc gia nhập của mình rằng sự phê chuẩn hay gia nhập đó không áp dụng cho các Điều từ 1 đến 21Phụ lục. Trong trường hợp nước đó trước đây đã có tuyên bố về Điều VI(1) của Phụ lục thì chỉ cần tuyên bố lại trong văn bản phê chuẩn hay gia nhập của mình rằng văn bản đó không áp dụng cho các Điều từ 1 đến 20.
(c) Mọi nước thành viên của Liên hiệp, theo như điểm (b), tuy trong văn bản phê chuẩn hay gia nhập đã loại bỏ những điều khoản nói trên, nhưng sau này vẫn có thể tuyên bố lại phê chuẩn hay gia nhập vào những điều khoản đó.

(2)

(a) Các Điều từ 1 đến 21Phụ lục sẽ có hiệu lực ba tháng sau khi hai điều kiện sau đây được thoả mãn:
(i) có ít nhất là 5 nước thành viên Liên hiệp đã phê chuẩn hoặc gia nhập Đạo luật này mà không có tuyên bố về khoản (1)(b);
(ii) các nước Pháp, Tây Ban Nha, Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ái Nhĩ Lan, và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đã bị ràng buộc bởi Công ước Thế giới về bản quyền đã được điều chỉnh tại Paris ngày 24/7/1971.
(b) Việc có hiệu lực nói ở điểm (a) áp dụng cho những nước Liên hiệp đã gửi văn bản phê chuẩn hay gia nhập không có tuyên bố về khoản (1)(b), ít nhất là 3 tháng trước khi hiệu lực nói trên bắt đầu.
(c) Đối với những thành viên của Liên hiệp không thuộc diện nói ở điểm (b), khi phê chuẩn hay gia nhập Đạo luật này mà không có tuyên bố về khoản (1)(b), thì các Điều từ 1 đến 21Phụ lục vẫn có hiệu lực sau ba tháng tính từ ngày Tổng giám đốc thông báo việc gửi văn bản phê chuẩn hay gia nhập nói trên, trừ khi trong văn bản của Tổng giám đốc có ấn định một ngày khác. Trường hợp này các Điều từ 1 đến 21Phụ lục có hiệu lực đối với nước đó kể từ ngày ghi trong văn bản.
(d) Các quy định của đoạn từ điểm (a) đến (c) không ảnh hưởng tới việc áp dụng Điều VI của Phụ lục.

(3) Đối với những nước thành viên của Liên hiệp đã phê chuẩn hay gia nhập Đạo luật này dù có hoặc không có tuyên bố về Điều 1(b), các Điều từ 22 đến 38 sẽ có hiệu lực sau ba tháng tính từ ngày Tổng giám đốc thông báo đã nhận được văn bản phê chuẩn hay gia nhập nói trên, trừ khi trong văn kiện đó có ấn định một ngày khác sau thời hạn nói trên. Trong trường hợp này các Điều từ 22 đến 38 sẽ có hiệu lực đối với nước đó kể từ ngày ghi trong văn bản.

Điều 29[sửa]

(1) Các nước ngoài Liên hiệp có thể gia nhập Đạo luật này, trở thành một bên của Công ước và trở thành viên của Liên hiệp. Văn kiện gia nhập gửi cho Tổng giám đốc.

(2)

(a) Trừ trường hợp nói ở điểm (b) dưới đây, Công ước này sẽ có hiệu lực đối với một nước ngoài Liên hiệp sau ba tháng tính từ khi Tổng giám đốc thông báo đã nhận được văn bản gia nhập của nước đó, trừ khi trong văn bản này có ấn định một ngày khác sau thời hạn trên. Trong trường hợp này Công ước có hiệu lực đối với nước đó kể từ ngày ghi trong văn bản.
(b) Nếu đoạn (a) bắt đầu có hiệu lực trước các Điều từ 1 đến 21Phụ lục về Điều 28(2)(a), thì nước nói trên, trong khoảng cách giữa hai thời gian đó, sẽ bị ràng buộc bởi các Điều từ 1 đến 20 của Đạo luật Bruxelles thay cho các Điều từ 1 đến 21Phụ lục của Đạo luật này.

Điều 29bis[sửa]

Với mục đích duy nhất nhằm áp dụng Điều 14.2 của Công ước thành lập Tổ chức, việc phê chuẩn hay gia nhập Đạo luật này của một nước không bị ràng buộc bởi các Điều từ 22 tới 38 của Đạo luật Stockholm của Công ước này được coi là phê chuẩn hay gia nhập Đạo luật Stockholm nói trên với những giới hạn nêu trong Điều 28(1)(b)(i) của Đạo luật đó.

Điều 30[sửa]

(1) Trừ những ngoại lệ ghi ở khoản (2) của Điều này, các Điều 28(1)(b); 33(2) và Phụ lục, việc phê chuẩn hay gia nhập hàm chứa sự chấp thuận toàn vẹn các quy định và thừa hưởng tất cả những quyền lợi đã nói trong Công ước này.

(2)

(a) Mọi nước trong Liên hiệp khi phê chuẩn hay gia nhập Đạo luật này, ngoài những quy định của Điều V(2) của Phụ lục đều có thể vẫn giữ quyền bảo lưu mà nước đó đã đưa ra trước đây với điều kiện là phải tuyên bố điều đó khi nộp văn bản phê chuẩn hay gia nhập của mình.
(b) Mọi nước ngoài Liên hiệp khi gia nhập Công ước này, và tuân thủ quy định ở Điều V(2) của Phụ lục, đều có thể tuyền bố rằng mình quyết định, ít ra là tạm thời, thay thế Điều 8 của Đạo luật này (liên quan đến quyền dịch) bằng những quy định ở Điều 5 của Công ước của Liên hiệp năm 1886, được hoàn thiện tại Paris năm 1896 trên cơ sở nhận thức rõ ràng rằng những quy định nói trên chỉ áp dụng cho việc dịch sang một ngôn ngữ thông dụng trong nước đó. Tuân thủ quy định ở Điều I(6)(b) của Phụ lục, mọi nước đều có quyền áp dụng một sự bảo hộ tương đương với sự bảo hộ ở các nước có bảo lưu nói trên đối với quyền dịch các tác phẩm có nước gốc là nước áp dụng bảo lưu đó.
(c) Mỗi nước đều có thể rút lại những bảo lưu nói trên bất kỳ lúc nào bằng một thông báo cho Tổng giám đốc.

Điều 31[sửa]

(1) Mỗi nước đều có thể tuyên bố trong văn bản phê chuẩn hay gia nhập hoặc gửi thông báo lên Tổng giám đốc vào bất cứ lúc nào, khẳng định rằng Công ước này sẽ áp dụng cho toàn bộ hay một phần những lãnh thổ được nêu ra, để phục vụ cho những quan hệ đối ngoại mà nước đó đảm nhiệm.

(2) Những nước đã tuyên bố hay gửi thông báo trên có thể, bất kỳ lúc nào, thông báo cho Tổng giám đốc rằng Công ước này chấm dứt hiệu lực đối với toàn bộ hay một phần những lãnh thổ đó.

(3)

(a) Việc tuyên bố nói ở khoản (1) có hiệu lực vào cùng ngày với sự phê chuẩn hay gia nhập có ghi lời tuyên bố đó. Văn bản thông báo về khoản (1) có hiệu lực sau ba tháng tính từ khi Tổng giám đốc thông báo điều đó.
(b) Những thông báo nói ở khoản (2) sẽ có hiệu lực sau 12 tháng tính từ khi Tổng giám đốc nhận được thông báo.

(4) Không thể coi Điều này có hàm ý rằng mọi nước trong Liên hiệp đều chấp nhận hoặc mặc nhiên công nhận thực trạng hiện hành của một lãnh thổ ở đó một nước khác của Liên hiệp áp đặt việc áp dụng công ước này bằng một bản tuyên bố về khoản (1).

Điều 32[sửa]

(1) Đạo luật này thay thế Công ước Berne ký ngày 9/9/1886 và những Đạo luật đã hiệu chỉnh sau đó, trong mối quan hệ giữa các nước Liên hiệp và trong giới hạn Đạo luật này được áp dụng. Các Đạo luật đã có hiệu lực trước đây vẫn tiếp tục được áp dụng hoặc toàn bộ hoặc trong phạm vi những điều mà đạo luật này không thay thế, có liên quan các nước thuộc Liên hiệp nhưng chưa phê chuẩn hoặc gia nhập Đạo luật này.

(2) Những nước ngoài Liên hiệp khi gia nhập Đạo luật này, tuân thủ những quy định ở khoản (3) dưới đây, áp dụng Đạo luật này trong quan hệ với bất cứ nước thành viên nào của Liên hiệp chưa bị ràng buộc bởi Đạo luật này hoặc đã bị ràng buộc nhưng đã có tuyên bố về Điều 28(1)(b). Các nước đó thừa nhận để các nước nói trên thuộc Liên hiệp trong quan hệ với mình có thể:

(i) áp dụng các Điều khoản của Đạo luật mới nhất mà nước đó bị ràng buộc;
(ii) tuân thủ Điều I(6) của Phụ lục, có quyền điều chỉnh mức bảo hộ cho phù hợp với quy định của Đạo luật này

(3) Một nước đã nhất trí với quy định trong Phụ lục, có thể áp dụng các quy định đó đối với những lĩnh vực mình đã chọn, trong mối quan hệ với những nước Liên hiệp khác chưa bị Đạo luật này ràng buộc, với điều kiện là những nước đó đồng ý áp dụng những quy định nói trên.

Điều 33[sửa]

(1) Mọi tranh chấp giữa hai hay nhiều nước thành viên Liên hiệp liên quan đến cách giải thích hoặc áp dụng Công ước này mà không giải quyết được bằng thương lượng, có thể một trong những nước hữu quan đưa ra Toà án công lý quốc tế bằng cách nộp đơn khiếu nại theo đúng quy định của Toà án, trừ khi các nước này thoả thuận tìm một cách giải quyết khác. Nước nguyên cáo sẽ thông báo cho Phòng Quốc tế về những tranh chấp đã đưa ra Toà và Phòng Quốc tế sẽ thông báo cho các nước thành viên Liên hiệp.

(2) Mọi nước, khi ký kết hay đệ trình văn bản phê chuẩn hay gia nhập Đạo luật này, đều có thể tuyên bố mình không chịu ràng buộc bởi những quy định ở khoản (1). Trong trường hợp này, những tranh chấp giữa nước đó với những nước thành viên Liên hiệp khác sẽ không áp dụng quy định ở khoản (1).

(3) Một nước tuy đã ra tuyên bố về quy định ở khoản (2) có thể, vào bất kỳ lúc nào, rút lại tuyên bố đó bằng cách gửi thông báo cho Tổng giám đốc.

Điều 34[sửa]

(1) Một khi các Điều từ 1 đến 21Phụ lục bắt đầu có hiệu lực, tuân thủ quy định ở Điều 29bis, không một nước nào có thể gia nhập hoặc phê chuẩn những Đạo luật trước đó của Công ước.

(2) Sau khi các Điều từ 1 đến 21Phụ lục đã có hiệu lực, không nước nào có thể ra tuyên bố về Điều 5 của Nghị định thư về các nước đang phát triển, phụ đính của Đạo luật Stockholm.

Điều 35[sửa]

(1) Công ước này có hiệu lực không hạn định về thời gian.

(2) Mỗi nước có thể rút khỏi Đạo luật này bằng việc gửi thông báo cho Tổng giám đốc. Sự rút lui này đồng thời cũng là từ bỏ tất cả những Đạo luật trước đó và chỉ có hiệu quả đối với nước rút lui, còn Công ước vẫn có hiệu lực và được thực thi đối với những nước thành viên Liên hiệp khác.

(3) Việc rút lui có hiệu lực sau một năm tính từ ngày Tổng giám đốc nhận được bản thông báo.

(4) Không một nước nào được sử dụng khả năng rút lui quy định trong Điều này trước khi hết thời hạn 5 năm kể từ ngày nước đó trở thành thành viên Liên hiệp.

Điều 36[sửa]

(1) Mỗi nước thành viên Liên hiệp sẽ cam kết ban hành những biện pháp cần thiết, phù hợp với Hiến pháp của mình, nhằm đảm bảo việc áp dụng Công ước này.

(2) Khi một nước bắt đầu bị ràng buộc bởi Công ước này thì nước đó đã có đủ quyền hạn thực hiện các điều khoản của Công ước này theo luật quốc gia của mình.

Điều 37[sửa]

(1)

(a) Đạo luật này được ký thành một bản duy nhất bằng tiếng Pháp và tiếng Anh, theo như quy định ở khoản (2), sẽ được lưu chiểu nơi Tổng giám đốc.
(b) Các văn bản chính thức sẽ được Tổng giám đốc thiết lập sau khi tham khảo ý kiến của các Chính phủ có liên quan, bằng các thứ tiếng Ả Rập, Bồ Đào Nha, Đức, Tây Ban Nha, Ý và bằng các thứ tiếng khác do Hội đồng chỉ định.
(c) Trong trường hợp có sự bất đồng ý kiến về cách giải thích các văn bản khác nhau, văn bản tiếng Pháp được dùng làm văn bản chuẩn.

(2) Đạo luật này để ngỏ cho các nước ký cho đến ngày 31 tháng 1 năm 1972. Đến ngày đó, văn bản nói ở khoản (1)(a) được lưu chiểu tại Chính phủ Cộng hoà Pháp.

(3) Tổng giám đốc chuyển hai bản sao có chứng thực sao y bản chính của văn bản đã được ký của Đạo luật này cho Chính phủ của tất cả các nước thành viên Liên hiệp và cho Chính phủ của các nước khác, nếu có yêu cầu.

(4) Tổng giám đốc đăng ký Đạo luật này với Ban thư ký của Liên Hợp Quốc.

(5) Tổng giám đốc thông báo cho Chính phủ của tất cả các nước thành viên Liên hiệp về các bên ký kết, những lưu chiểu văn bản phê chuẩn hay gia nhập, và những tuyên bố có trong các văn bản đó hoặc những tuyên bố về các khoản 28(1)(c); 30(2)(a) và (b) và 32(2), sự bắt đầu có hiệu lực của các Điều của Đạo luật này, những thông báo rút lui, những thông báo về các Điều 30(2)(c); 31(1) và (2); 33(3) và 38(1) và những thông báo nói ở trong Phụ lục.

Điều 38[sửa]

(1) Những nước thành viên của Liên hiệp chưa phê chuẩn hay gia nhập Đạo luật và chưa bị ràng buộc bởi các Điều từ 22 đến 26 của Đạo luật Stockholm, nếu muốn, có thể thực thi cho tới ngày 26/4/1975 các quyền lợi được quy định trong các Điều nói trên như thể đã bị các Điều khoản đó ràng buộc. Nước nào muốn thực thi những quyền lợi đó phải gửi đến Tổng giám đốc một văn bản thông báo. Bản thông báo này có hiệu lực ngay sau khi nhận được. Những nước đó sẽ được xem là thành viên của Hội đồng cho đến thời hạn nói trên.

(2) Chừng nào mà tất cả các nước thành viên Liên hiệp chưa trở thành thành viên chính thức của Tổ chức, thì Phòng Quốc tế của Tổ chức vẫn thực hiện chức năng là văn phòng của Liên hiệp và Tổng giám đốc sẽ kiêm chức trưởng phòng của phòng này.

(3) Một khi tất cả các nước thành viên Liên hiệp đã là thành viên của Tổ chức thì các quyền lợi, nghĩa vụ và tài sản của Phòng Liên hiệp sẽ quy tụ cả về Phòng Quốc tế của Tổ chức