Hán văn độc tu 1932/Bài học thứ tư

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

I. Học tiếng một (Adjectifs qualificatifs)[sửa]

Chữ Hán Đọc Nghĩa
Đại Lớn
Tiểu Nhỏ
Cao Cao
Đê Thấp
Thâm Sâu
Thiển (Siển) Cạn
Mỹ Đẹp
Xấu
Quảng Rộng
Hiệp Hẹp
Trường Dài
Đoản Vắn (ngắn)
Hậu Dày
Bạc Mỏng
Minh Sáng
Ám Tối
Trực Thẳng
Khúc Cong
Chánh Ngay
Vạy
Lợi Bén (sắc)
Độn Cùn (đùi)
Viễn Xa
Cận Gần
Xảo Khéo
Chuyết Vụng
Tốc Mau
Trì Chậm
An An (bình an)
Nguy Nguy (nghèo ngặt)

II. Cắt nghĩa thêm[sửa]

Đây là ít nhiều tiếng adjectif qualificatif mà lấy tinh những chữ có nghĩa đối nhau cho dễ nhớ. Như đối với , đối với v.v…

Chữ Hán cũng như chữ Pháp, có sens propre là nghĩa đen và có sens figuré là nghĩa bóng. Như sâu, cạn, nghĩa đen là nói về nước, bởi vì nó thuộc bộ chấm thuỷ, có chữ ( cũng kể là ) đứng một bên; nhưng cái gì không phải nước mà có ý sâu cạn thì cũng nói 深 淺 được. Muốn chỉ nghĩa cái lòng người sâu, khó lường, thì cũng dùng chữ để qualifier cho cái lòng; muốn chỉ nghĩa sự biết cạn xợt, không tới nơi tới chốn, thì cũng dùng chữ để qualifier cho sự biết.

, , , , bốn chữ ấy đều thuộc về bộ (bộ Xước, ta kêu bằng bộ Quai xước), nghĩa là chốc lại đi, chốc lại đứng, cho nên bốn chữ đó, nghĩa đen của nó: xa, gần, mau, chậm, đều nói về sự đi đứng hết. Nhưng dùng sang nghĩa bóng thì dầu không phải sự đi đứng cũng nói được.

Bất kỳ adjectif nào cũng có nghĩa đen nghĩa bóng hết; biết đại khái như sáu chữ trên đó đặng sau nầy có gặp những chữ khác sẽ mau hiểu.

Hôm nay có những chữ thuộc về những bộ học rồi, nên nhắc lại cho nhớ: về bộ Nhân; về bộ Thủy; về bộ Khuyển; 明 暗 về bộ Nhựt; về bộ Đao.

Lại có mấy chữ thuộc về bộ chưa có học tới: như 遠 近 v.v... đã nói trên kia rồi; còn: về bộ Thảo. ( mà biến hình ra  luôn luôn ở trên đầu chữ, tục kêu là Thảo đầu. nghĩa là cỏ, ấy là chữ đời xưa, đời nay viết thành  ).

về bộ Ấp. ( mà biến hình ra , luôn luôn ở bên hữu chữ.  nghĩa là xóm).

về bộ Kim ( mà biến hình ra , thường ở bên tả chữ. nghĩa là loài kim, là vàng).

(Trên đây kể sơ những chữ đầu bộ đại khái, chớ không thể kể hết được, sau đến chừng tra tự điển được sẽ biết nhiều hơn).

III. Văn pháp Adjectif đặt đôi và đặt với nom cách nào[sửa]

Adjectif cũng có đơn có kép. Đơn là như 30 tiếng học hôm nay, mỗi tiếng một nghĩa: là lớn; là nhỏ v.v...

Có khi đặt đôi, cho hai adjectif đi liền nhau, thành ra kép. Khi ấy kể như một adjectif, nhưng phải hiểu nó vẫn có hai ý.

Như nói 高 明, trong đó có hai ý: cao và sáng; 廣 大, trong đó có hai ý: rộng và lớn.

Dùng một adjectif qualifier cho một nom thì phải để adjectif trước nom. Như nói núi cao thì phải nói 高 山; nói sông lớn thì phải nói 大 川.

Nhưng khi dùng adjectif đôi hoặc kép qualifier cho nom thì lại phải đặt chữ vào giữa, như:

高 明 之 家 : Cái nhà cao sáng (nghĩa là cái nhà cao sang quyền quý, thiên hạ trông vào tỏ sáng lắm).

正 直 之 人 : Cái người ngay thẳng.

Chữ này cũng giống như chữ dùng trong tiếng nom liên thuộc đã học ở bài văn pháp trước.

IV. Học tiếng đôi[sửa]

Hôm nay, theo như văn pháp mới vừa nói đó, lấy một ít adjectif ghép với một ít nom thành ra tiếng đôi để học cho quen cách đặt và cũng cho nhớ mặt chữ:

大 月 : Tháng đủ  大 小 dùng như vầy là theo nghĩa riêng; ngoài ra không khi nào dùng 大 小 mà chỉ nghĩa đủ thiếu được. (Hai tiếng nầy cũng thành như nom kép rồi).
小 月 : Tháng thiếu

巧 手 : Tay khéo

拙 工 : Thợ vụng

長 爪 : Móng tay dài

短 刀 : Dao ngắn

利 口 : Miệng sắc (miệng khéo nói)

明 月 : Trăng tỏ

美 女 : Gái đẹp

暗 室 : Buồng tối

醜 婦 : Người đàn bà xấu (bộ tướng xấu)

厚 皮 : Da dày

曲 木 : Cây cong

遠 山 : Núi xa

邪 心 : Lòng vạy (Lòng không ngay).

V. Những thành ngữ dùng vào Quốc văn[sửa]

Hôm nay bắt đầu học những tiếng nào đã trở nên thành ngữ (expression) trong chữ Hán mà cũng đã dùng vào tiếng ta rồi hoặc có thể dùng vào được. Trong những thành ngữ ấy phần nhiều là chữ học rồi; chữ nào chưa học sẽ có chua âm.

Có nhiều cái thành ngữ nói luôn miệng mà không biết nó vốn là chữ Hán. Hễ đã không biết vậy thì tất nhiên không hiểu nghĩa cho đến nơi. Cho nên, học mục nầy, ích về Hán văn phần rồi; mà về quốc văn lại còn có ích hơn nữa.

(thường) = Thường xuyên: Cái gì luôn luôn không ngớt; có ý là như con sông chảy thường.

心 田 = Tâm điền: Chỉ cái lòng. Do cái lòng người ta mà sanh ra việc nầy việc kia cũng như bởi ruộng sanh ra vật sản, cho nên nói tâm điền.

心 地 = Tâm địa: Cũng như tâm điền. (Hai tiếng nầy đều là nom kép).

目 擊 (kích) = Mục kích: Thấy tận mắt. Kích là đánh. Lấy mắt đánh vào cái gì, nghĩa là thấy chắc lắm.

大 家 = Đại gia: Nhà nhiều đời có người làm nên, có nền nếp và danh giá.

江 山 = Giang sơn: Chỉ về đất của nước. Đất của nước nào cũng có núi và sông, cho nên lấy núi sông làm đại biểu.

(quang) 明 正 大 = Quang minh chánh đại: Nói về người hay việc có tánh chất tỏ sáng ngay thẳng, lớn lao, trái với sự thầm tối, xiên xẹo, nhỏ nhen.

(thanh) 天 白 (bạch) = Thanh thiên bạch nhựt: Giữa nơi có trời xanh, mặt nhựt trắng, ý nói là chỗ ai nấy đều thấy, không giấu gím ai.

VI. Tập đặt[sửa]

Làm như đã chỉ trong số trước, tập dịch Quốc ngữ ra chữ Hán, mà hôm nay thì lấy adjectif với nom ghép nhau. Cốt nhứt là phải nhớ cái luật adjectif đứng trước nom. Vậy hãy dịch theo những cái đề sẵn dưới đây:

1. Cái tai lớn. - 2. Cái đuôi dài. - 3. Cái gò cao. - 4. Cái giếng sâu. - 5. Cái dao bén. - 6. Con mắt sáng. - 7. Cái ghế nhỏ. - 8. Nước cạn. - 9. Sắc đẹp. - 10. Người ngay. - 11. Ngày dài. - 12. Cái sừng cong. - 13. Cái áo vắn. - 14. Cái miệng hẹp. - 15. Cái hình xấu.

PHAN KHÔI