Hạnh Thục ca/17

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Nhân cơ hai gã đại-thần,
Cũng rằng vì nước, cũng rằng vì thân.
Đồng lòng ủng lập ấu quân,
Toan mưu phế trí, sớ văn tâu bày[1].
Tính vừa bốn tháng mười ngày[2],
Đặt lên cất xuống sự này tại ai ?
Chúng quan tề tập quanh ngoài,
Sớ dâng kể hết mọi lời vân-vây[3].
Bởi lòng ở chẳng biết lời,
Ngồi trên muôn cộ[4] ai vầy khứng theo.
Chỉn lo nhà nước nghiêng nghèo,
Làm tôi vậy phải quyết liều trước toan.
Chịu thời đều đặng vẹn an,
Người hay theo phép, dám can phạm gì.
Đã vầy còn hãy nói chi,
Xin cho phiên phục lại về là may[5].
Lạy xin cứu mẹ con nay,
Nghe lời người cũng xót thay những là.
Phán rằng: "Sự ấy mặc ta,
Có truyền ý-chỉ dám là chẳng vâng[6]."
Lãng-công nghe vậy, lòng mầng[7],
Soạn đồ bảo ấn giao dâng tức kỳ.
Bèn ban ý-chỉ dụ tri :
"Phụ thần nay phải tuân y lời già.
Sự này há bởi người ta,
Nay dù có lỗi cũng tha mới đành.
Huống đà chịu phép, phục tình,
Rộng dung cho đặng toàn sinh thoái hồi."
Hai quan Phụ-chính vâng lời,
Gửi: "Xin chực võng mời người kíp ra."
Sợ e đâu dám dần-dà,
Một đoàn hầu thiếp, cùng là con dâu.
Ra vừa tới chốn thành đầu,
Phủ ông Dục-Đức, truyền hầu vào ngay.

   




Chú thích

  1. Toan mưu phế trí, sớ văn tâu bày: Tường và Thuyết làm sớ tâu bà Từ-dụ xin bỏ vua Hiệp-hòa.
  2. Bốn tháng mười ngày: Vua Hiệp-hòa làm vua được có hơn bốn tháng.
  3. Vân-vây: là lấy vần, chính chữ là vân-vi.
  4. Muôn cộ: là dịch nghĩa chữ vạn thặng.
  5. Xin cho phiên phục lại về là may: Vua Hiệp-hòa xin về giữ chức làm tôi.
  6. Có truyền ý-chỉ dám là chẳng vâng: Lời bà Từ-dụ nói.
  7. Lòng mầng: Câu này trong bản nôm đề : mầng lòng, nhưng để chữ lòng ở cuối câu thì lạc vần, cho nên để là lòng mầng thì đúng vần mà cũng không sai nghĩa.