Hạnh Thục ca/22

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Nỗi Tây lấn hiếp đã rồi,
Nỗi mình lấn hiếp nghĩ thôi rất kỳ.
Chẳng qua gặp buổi suy-vi,
Hoàng thân quốc thích gian-nguy khôn cùng.
Ở đời chẳng giữ đạo trung,
Xu viêm phụ nhiệt[1] những mong sang quyền
Gặp khi đến lúc ngả nghiêng,
Người nghèo, ắt cũng lụy liên tới mình.
Lạng-công xẩy gặp bất-bình,
Quốc-công Tuy-lý thất-kinh lo lường.
Sợ rằng bầy đảng tội mang,
Tới cầu Pháp-quốc giải nàn họa may.
Nào hay Tây chẳng nạp rày,
Phải về chịu phép thoát nay không đường.
Một nhà thảy bị giam phòng[2],
Ông Phong, ông Hải cũng mang tai nàn.
Hường Phì, Hương Giáp hai chàng,
Đều tra thuốc độc chẳng khoan nỡ lòng.
Ngạnh cường chẳng khứng phục tòng,
Kỳ-anh-Công cũng theo vòng chết oan.
Thương thay lá ngọc cành vàng,
Vì sao nên nỗi lạc ràng khổ thay ?
Bảo thân phải có chước hay,
Thời chi đến nỗi họa lây lửa thành[3].
Sợ lo ai nấy giữ mình,
Ai làm nguy khổ oan tình mặc ai.
Kêu-rêu nào dễ thấu trời,
Đã đành chậu úp khôn soi chốn mờ.
Vua thời còn hãy ấu thơ,
Mặc lòng sinh sát bắt tha uy quyền.
Tiếm dùng nghi-vệ chẳng kiêng,
Lung-lăng ngấp-nghé ý riêng đã bày.
Binh quyền trao kẻ chân tay,
Mộ quân Phấn-nghĩa để nay hộ mình.
Hường Chuyên lại với Hường Thành,
Vốn cùng mưu mật nỡ đành giết oan,
Chút hờn chẳng khứng nhiêu khoan[4]
Đãi người luống những bạo tàn nghi sai[5].
Pháp tiền[6] dân chẳng vâng lời.
Phố-phường chợ búa bời bời dậy la.
Uy hành cấm trấp hỏi tra,
Song dân chẳng phục dức la thêm ồn.
Phải dùng ý chỉ[7] cam ngôn,
Khâm tuân phủ dụ[8] biết tôn biết vì.
Gẫm xem việc nước suy-vi,
Cũng vì hối hóa[9] tiền kia thông đồng.
Làm tôi chẳng giữ sạch trong,
Phì gia ích kỷ thửa lòng làm sao,
Vả rằng nhà nước tổn hao,
Chưng nay tế-tự thể nào cũng nên.
Thọ-xuân-Vương cũng hòa khen,
Bên bày tân lễ giảm quyên[10] quá chừng.
Thánh xưa lời để dạy răn,
Mất dê mất lễ ấy rằng sao nên.
Đều là chính lệnh quai khiên[11],
Đứa ngu chịu tội người hiền lánh thân.
Đành lòng trông đợi ấu quân,
Lớn khôn sửa trị họa chăng sau này.

   




Chú thích

  1. Xu viêm phụ nhiệt: là chạy đến chỗ lửa nóng, nương-tựa chỗ nóng ấm, tức là nói người siểm nịnh.
  2. Giam phòng: Vần phòng không hợp vận với vần dường và vần mang.
  3. Họa lây lửa thành: cũng như nói : cháy thành vạ lây.
  4. Nhiêu khoan: cũng như khoan-dung.
  5. Nghi sai: là ngờ-vực. Ý nói Tôn-thất Thuyết đa nghi hay giết người.
  6. Pháp tiền: là tiền sềnh đúc theo niên-hiệu Tự-đức mỏng và xấu.
  7. Phải dùng ý chỉ: dùng ý chỉ nhà vua mà phủ dụ nhân-dân.
  8. Khâm tuân phủ dụ: kính theo người trên mà phủ dụ người dưới.
  9. Hối hóa: là của cải vàng lụa v.v... Ý nói lấy hối-lộ rồi bắt dân tiêu tiền sềnh.
  10. Giảm quyên: là bỏ bớt. Bỏ bớt các lễ tế-tự.
  11. Quai khiên: là trái ngược, sai lầm.