Hải khẩu dạ bạc hữu cảm (I)

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt Dịch nghĩa

一別江湖數十年
海門今夕繫吟船
波心浩渺滄洲月
樹影參差漵浦烟
往事難尋時易過
國恩未報老堪憐
平生獨抱先憂志
坐擁寒衾夜不眠

Nhất biệt giang hồ sổ thập niên[1],
Hải môn kim tịch hệ ngâm thuyền.
Ba tâm hạo diểu thương châu nguyệt ;
Thụ ảnh sâm si tự phố yên.
Vãng sự nan tầm thì dị quá ;
Quốc ân vị báo lão kham liên[2].
Bình sinh độc bão tiên ưu chí[3],
Tọa ủng hàn khâm dạ bất miên.

Từ ra đi khoảng giang hồ đã mấy chục năm,
Cửa biển tối nay mới buộc thuyền thơ.
Lòng nước mênh mông, trăng chiếu trên bãi ;
Bóng cây so le, mặt vụng khói lồng.
Việc xưa khó tìm, thời dễ qua mau lắm ;
Ơn nước chưa đền, mà đã già đáng thương.
Bình sinh một mình ôm cái chí lo trước ;
Ngồi ôm chăn lạnh không ngủ suốt đêm.

   




Chú thích

  1. Cũng khó đoán lúc nào; phải chăng viết vào khoảng đương tham gia chiến đấu, khi gần thành công, từ Thanh Hóa hay Nghệ An vượt biển ra Thăng Long
  2. Các bản chép là « giả 者 kham liên », có lẽ chữ lão 老 đã bị chép lẫn thành chữ 者
  3. Tiên ưu chí: Phạm Trọng Yêm là danh sĩ đời Tống ở Trung Quốc, có tiếng về khí tiết, từng nói rằng: « Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu; hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc », nghĩa là lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ