Lam Sơn thực lục/Phụ lục

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Lời bình[1][sửa]

Âm không cùng thì Dương không nẩy. Loạn không cực thì đức không sinh. Đó là lời bàn thông-thường xưa, nay! Nước Việt ta từ nhà Nhuận-Hồ trái đạo, trong nước mất trông mong. Người Minh nhân dịp ấy đem quân sang lấn. Giả-vờ làm quân nhân-nghĩa; ngấm-ngầm tính việc xâm-lăng! Tàn-hại nhân dân; cướp lấy của báu. Rồi đó gồm nuốt nước ta, chia đặt quận, huyện. Thay-đổi phong-tục của ta; hiếp trao quan-tước của họ. Dân ta trong lúc ấy, đã khổ về chính-lệnh nhà Hồ nghiêm-ngặt, lại thảm nỗi quan-lại bên Minh rút-bòn! Quần-chúng thở-than, không kêu-gọi vào đâu cho được! Dù đương-thời có những trang quyền-biến, trí-thức, cũng chẳng qua náu hình, lẩn bóng, tránh tiếng, trốn đời để giữ mình cho khỏi bị hại mà thôi!

Ví không có bậc Thánh-nhân ra, thu lại đám dân tan-tác, cứu cho vận nước long-đong, thì ngôn-ngữ ta đã nói theo Tàu; áo-mũ ta đã mặc theo Tàu, dân-chúng biết lấy ai nương-nhờ? Ngôi nước biết bao giờ khôi-phục?

Trời giúp nước ta, đốc sinh ra đức.

Thái-tổ Cao hoàng-đế chúng ta, lấy tài thông-minh, trí, dũng; làm việc hỏi tội, cứu dân. Trong lúc mới cất quân khởi nghĩa; Không để cho quan-tước dụ nổi; không để cho oai-thế hiếp nổi. Tuy gặp lúc nhiễu-nhương, mà lòng càng vững; trải cơn cùn-quẫn mà chí càng hăng. Tới khi tiếng nghĩa đồn dậy, gươm thần vung dài, mà các dũng-tướng, mưu-thần xúm lại như mây họp! Tướng võ thì bọn Trịnh Khả, Lê Xí, thường lập được công to. Tướng văn thì bọn Nguyễn Trãi, Văn Linh, hằng bày ra kế giỏi... Cho nên có thể lấy được ít mà địch được nhiều, lấy yếu mà chống nổi mạnh! Vả chăng trong lúc xông-pha hàng trận, không quên nghiên-cứu lược-thao. Có khi đặt mai-phục mà dùng kỳ-binh. Có khi nó định lừa mà ta phản lại! Tiến quân Vua như chẻ cây nứa! Phá lũ giặc như bẻ cành khô! Các tướng bên Minh, dùng hùng-hổ như bọn Liễu Thăng, Lương Minh, đều thua trận mà mất đàu! mưu-trí như bọn Thôi Tụ, Hoàng Phúc, cũng hết kế mà dương mắt! Lũ giặc hơn hai mươi năm, quét trừ trong một sớm! Mặt non sông từ đó đổi mới! Ánh Nhật, Nguyệt, từ đó lại trong! Đất-cát lại đất-cát nước Nam! Nhân-dân lại nhân-dân giống Việt! Áo-xiêm, phong-tục, lại đúng như xưa! Nền-nếp, mối-giềng, lại sáng như cũ! Nhà-vua đã làm xong việc đuổi trừ quân tàn-bạo, lại suy rộng tấm lòng "không ham giết người". Phàm những quân, tướng người Minh bị bắt, đều cấp thuyền cho đưa về nước, khiến cho hơn mười vạn người được đội đức tái sinh. Nếu chẳng phải bậc Thần Võ không cần giết người, có sao được thế? Gia-dĩ hiểu đạo giao-hảo láng-giềng, rõ nghĩa tôn-trọng nước lớn. Liền sai sứ-thần, sửa lại việc hòa-hảo cũ. Tỏ ra rằng: công-việc thuận trời, giữ nước, nếu chẳng phải bậc người hiểu sâu về nghĩa-ý của Thánh-hiền, có dễ được như thế đâu!

Xin xét về đời cổ mà bình-phẩm chuyện đó: Vũ-đế nhà Triệu cùng vua Hán đều tự làm vua nước mình, gồm có đất ở ngoài Ngũ-lĩnh, đóng đô ở Phiên-ngu, thật là vua anh-hùng. Thế nhưng chẳng qua cũng là một người Tàu sang cai-trị nước ta, chưa được chính-thống. Vua Tiên-hoàng nhà Đinh, đánh tan mười hai Sứ-quân, thống nhất được bản-đồ, dựng nên nước ta, thực là vua chính-thống. Thế nhưng lỡ vì không cẩn-thận đề-phòng việc nhỏ, gây ra sự chẳng lành, mà nước cũng mất theo. Vua Thái-tổ nhà Lý, nhân vua Ngọa-triệu thất đức, bèn có Thiên-hạ. Nhưng về nghĩa vua, tôi, sai, trái danh-phận, không thể không mang thẹn ở trong Trời, Đất! Vua Thái-tông nhà Trần, nhân vua Chiêu-hoàng quá yêu, bèn chiếm ngôi báu; nhưng về trong buồng-the, ở lỗi đạo hằng, không thể không để cười mãi đến muôn đời! Còn Nhà-vua thì từ núi Lam mà khởi nghĩa, giận giặc Tàu mà cất quân. Rút lại có thể lấy nhân mà giết lũ bất nhân; lấy chính mà đánh phường bất chính; khôi-phục nước ta sau hồi giặc Minh; gồm lấy thiên-hạ ở tay người Minh ... Tới khi mảnh giáp dẹp yên, bốn phương phẳng-lặng, ban lời đại-cáo, để lên ngôi vua. Được nước như vậy kể rất là chính-đáng. Sách dạy rằng: "Người quân-tử trọng sự ở cho chính". Lại nói rằng: Bậc vương-giả trọng sự nhất-thống". Nhà-vua đã được như thế vậy! Lại rõ mực-thước trị nước, biết phép-tắc truyền nhà, soạn ra sách Thực Lục, bày-tỏ nỗi khó-khăn gây nên vương-nghiệp, để răn-bảo con-cháu đời sau: chớ lấy giàu-sang mà sinh kiêu-xa; chớ lấy yên-vui mà nhãng phòng-ngừa. Ấy, dựng nghiệp, để mối là thế! Kìa những việc làm của các vua Triệu, Đinh, Lý, Trần, có sánh bì đâu được một phần muôn?

Công-đức của Nhà-vua to-tát: đất rộng, trời dài!

Ân-trạch của Nhà-vua thấm-nhuần: non cao, biển cả!

Vậy thì Tông-miếu được bền. Đế-nghiệp được vững, cho đến ức, vạn năm, đều là nhờ ở công, đức của Nhà-vua gây nên vậy.

Văn bia Vĩnh-Lăng ở Lam-Sơn (Lăng vua Lê Thái-Tổ)[sửa]

Dịch âm[sửa]

Duy Thuận-thiên lục niên, tuế thứ Quý-sửu, nhuận bát nguyệt, nhị thập-nhị nhật.

Thái-tổ Cao hoàng Đế tân thiên. Bản niên thập nguyệt, nhị-thập tam nhật, táng vu Lam-sơn chi Vĩnh-lăng.

Đế tính Lê, húy Lợi. Tằng-tổ húy Hối. Thanh-hóa phủ nhân dã. Thường nhất nhật du Lam-sơn, kiến chúng điểu quần phi, tường nhiễu ư Lam-sơn chi hạ, nhược chúng nhân tụ hội chi trạng; viết: "Thử giai xứ dã!". Nhân tỷ gia cư yên. Tam-niên nhi sản-nghiệp thành. Tử-tôn nhật phồn; nô-lệ nhật chúng. Kiến bang, khải thổ, thực cơ ư thử yên. Tự thị thế vi nhất phương Quân-trưởng.

Hoàng-tổ húy Đinh, khắc thừa kỳ gia, dĩ kế tiên chí, hữu chúng chí thiên dư nhân.

Hoàng-tổ tỷ Nguyễn-thị, tối hữu hiền-hạnh, sinh nhị tử, trưởng viết Tòng, thứ viết Khoáng: Đế chi.

Hoàng-khảo dã: khải-để từ-tường, hưu-hưu lạc thiện, hiếu dưỡng tân-khách. Lân-cảnh chi dân, thị đồng nhất gia. Thị dĩ nhân mạc bất cảm kỳ ân nhi phục kỳ nghĩa dã.

Hoàng-tỷ Trịnh-thị húy Thương, cần ư phụ đạo. Khuê-môn hòa mục, gia nhật ích xương. Sinh tam tử: bá viết Học, Trọng viết Trừ, quý tắc.

Đế dã Bá thụ Tổ, Phụ, chi truyền, bất hạnh đoản mệnh.

Đế thừa Tổ, Phụ chi nghiệp duy cẩn. Tuy thì tao đại-loạn nhi chí thả ích kiên. Hối tích sơn-lâm, dĩ giá-sắc vi nghiệp. Do kỳ phẫn cường-tặc chi lăng-bạo vưu chuyên tâm ư thao-lược chi thư. Khánh-kiệt gia-tư, hậu đải tân-khách.

Mậu-tuất khởi tập nghĩa binh, đồn Lạc-thủy thượng. Tiền hậu phàm sổ phập dư chiến, giai thiết phục, xuất kỳ, tỵ nhuệ, thừa tệ; dĩ quả địch chúng; dĩ nhược chế cường.

Bính-ngọ chiến ư Tốt-động, đại tiệp, toại tiến vi Đông-đô. Đinh-vỵ tặc viện An-viễn-hầu Liễu Thăng lĩnh binh thập vạn, do Quảng-tây tiến, Kiềm-quốc-công Mộc Thạnh, lĩnh binh ngũ vạn do Vân-nam tiến. Chi-lăng nhất chiến, Liễu Thăng thụ thủ; trảm tặc chúng sổ vạn dư cấp; Sinh cầm tặc tướng Hoàng Phúc, Thôi Tụ đẳng tam bách dư nhân, quân-hạ tam vạn dư khẩu. Sở hoạch Liễu Thăng sắc mệnh, binh phù, tống Vân-nam quân. Mộc Thạnh kiến chi, cử chúng tiêu hội. Trảm quắc sinh cầm, bất khả đàn kỷ. Thời trấn thủ Đông-quan thành, Thành-sơn hầu Vương Thông đẳng tiên dử ngã quân giảng hòa vi định, chí thị thỉnh minh ư. Nhị-hà chi thượng. Các xứ trấn thủ thành-trì, câu khai môn xuất hàng. Phàm sở cầm hoạch tặc nhân, cập các thành hàng tốt, cai thập dư vạn khẩu, nhất giai phóng hoàn. Thủy lộ tống hiệu thuyền ngũ bách du sưu. Lục lộ ứng phó khẩu lương, cước lực. Giới trấp quân sĩ, thu-hào nhất vô sở phạm. Lưỡng quốc tự thị thông hiếu. Bắc Nam vô sự. Mang-lễ, Ai-lao, câu nhập bản-đồ; Chiêm-thành, Đồ-bà, hàng hải tu cống.

Đế tiều y hãn thực, phàm lục tải nhi quốc trung đại trị. Chí thị băng.

Thuận-thiên lục niên, Quý-sửu, Thập nguyệt, Cát nhật, Vinh-lộc Đại-phu, Nhập-nội Hành-khiển, Tri Tam Quân sự, thần Nguyễn Trãi phụng Sắc loạn.

Hàn-lâm-viện đãi-chế, thần Vũ văn Phỉ phụng thư.

Dịch nghĩa[sửa]

Duy hiệu Thuận-thiên năm thứ sáu, là năm Quý-sửu tháng tám nhuận, ngày hai mươi hai, đức Thái-tổ Cao-hoàng đế chầu Trời. Tháng mười năm ấy, ngày hai mươi ba, táng ở Vĩnh-lăng thuộc Lam-sơn.

Nhà-vua, họ Lê húy Lợi.

Tằng-Tổ húy Hối, là người phủ Thanh-hóa. Từng có một ngày đến chơi Lam-sơn, thấy các chim bay hàng đàn, liệng quanh ở dưới núi Lam-sơn, như vẻ đông người hội-họp; liền nói rằng: "Chỗ này tốt đây!". Nhân dời nhà đến ở. Ba năm mà gây nên sản-nghiệp; con-cháu ngày một đông; tôi-tớ ngày một nhiều. Việc dựng nước, mở đất, thực gây nền từ đó. Từ đó đời đời làm chúa một phương.

Hoàng-tổ húy Đinh, nối được nghiệp nhà, để kế chí người trước, có dân đến hơn nghìn người.

Hoàng-tổ-tỷ họ Nguyễn, rất có nết hiền, sinh hai con: trưởng là Tòng, thứ là Khoáng, ấy là:

Hoàng-khảo của Nhà-vua: hoà-nhã, hiền-lành, vui-vẻ, thích làm việc thiện, chiêu-đãi khách-khứa. Dân ở cõi bên, coi cũng như một nhà. Vì thế không ai không cảm ngài vì ơn-đức và phục ngài vì nghĩa-khí.

Hoàng-tỷ họ Trịnh, húy là Thương, chăm-chỉ đạo đàn-bà; buồng-the hòa-thuận, nhà ngày càng thịnh. Sinh ba con: cả là Học, giữa là Trứ, út là Nhà-vua. Ông Cả chịu cơ-nghiệp của ông, cha truyền lại, không may ngắn số.

Nhà-vua nối nghiệp ông, cha, rất là kính-cẩn. Tuy gặp thì loạn lớn, mà chí càng bền. Lẩn dấu vào núi rừng, chăm nghề cày-cấy. Bởi ngài giận quân giặc cường-bạo lấn-hiếp, nên càng chuyên tâm về các sách thao-lược. Khánh-kiệt của nhà, hậu-đãi khách-khứa.

Năm Mậu-tuất, bắt đầu họp tập quân-nghĩa, đóng đồn trên sông Lạc-thủy. Trước sau gồm hai mươi mấy trận đánh, đều đặt mai-phục! dùng kỳ-binh; lánh quân hăng; lừa lúc mệt; lấy ít địch nhiều; lấy yếu chống mạnh.

Năm Bính-ngọ, đánh ở Tốt-động (giờ thuộc Hà-đông), được lớn. Bèn tiến lên vây Đông-đô (Hànội).

Năm Đinh-vị, quân cứu-viện của giặc là An-viễn-hầu Liễu Thăng, đem mười vạn quân từ Quảng-tây tiến sang; Kiềm-quốc-công là Mộc Thạnh, đem năm vạn quân từ Vân-nam tiến sang. Một trận đánh ở Chi-lăng, Liễu Thăng nộp đầu; chém quân giặc hơn vài vạn; bắt sống được tướng giặc là lũ Thôi Tụ, Hoàng Phúc hơn ba trăm người; quân-lính hơn ba vạn miệng. Đem tờ sắc cùng binh-phù bắt được của Liễu Thăng đưa sang cho quân Vân-nam. Mộc Thạnh thấy thế, đem quân đêm trốn. Nào chém đầu, nào bắt sống, không thể xiết chép. Khi ấy trấn-thủ ở thành Đông-quan, là bọn Thành-sơn-hầu Vương Thông, trước đã cùng quân ta giảng hòa chưa quyết, đến bây giờ xin ra thề ở trên sông Nhị-hà. Các kẻ trấn-thủ thành-trì các nơi, đều mở cửa ra hàng.

Phàm những quân giặc bắt được, cùng lính đầu hàng ở các thành gồm hơn mười vạn miệng, nhất thiết đều tha về. Đường thủy đưa cho hơn năm trăm thuyền hiệu. Đường bộ cấp cho lương ăn cùng phu gánh. Răn-bảo quân-sĩ, mảy may không xâm-phạm một chút nào. Hai nước từ đó thông sứ hòa-hảo. Nam, Bắc yên việc. Mang-lễ, Ai-Lao, đều vào bản đồ. Chiêm-thành, Đồ-bà, vượt bể đến cống.

Nhà-vua dậy sớm, ăn trưa, gồm sáu năm mà trong nước thịnh-trị. Tới nay băng.

Thuận-thiên năm thứ sáu, Quý-sửu, tháng mười, ngày lành, Vinh-Lộc đại-phu Nhập-nội Hành-khiển, chủ việc Ba Quân, tôi là Nguyễn Trãi phụng Sắc, soạn.

Hàn-lâm-viện đãi chế tôi là Vũ văn Phỉ phụng viết

Bạt[sửa]

Cuốn "Lam-sơn thực lục" có phải do tay Nguyễn Trãi viết không?

Đọc văn bia Vĩnh-lăng, theo bản trường Viễn-đông Bác-cổ đã dập được và in ra, ta thấy đoạn đầu văn bia ấy tức là đoạn đầu cuốn sách này. Văn bia ấy là của Nguyễn Trãi soạn, vậy cuốn sách này tức cũng do Nguyễn Trãi soạn. Một là vì giọng văn rất giống nhau. Hai là vì không có lẽ ông Trãi là một tay văn-hào, phụng sắc viết bia, kể cũng là một việc trọng, lại lười mà chép cả đoạn ở một cuốn sách do người khác viết như vậy. Ba là vì trong sách chỉ nhắc đến Nguyễn Trãi về việc giữ giấy tờ trong quân và viết bài Bình Ngô đại cáo. Còn chỗ nói đến các văn-thần có công giúp Nhà-vua mở nước, thì chỉ kể có Lê văn Linh và Bùi quốc Hưng. Ấy là ông Trãi tự mình khiêm-tốn không dám tự-nhận là hạng khai-quốc nguyên-huân. Nếu người khác viết thì có lẽ nào chỗ đó lại bỏ tên Nguyễn Trãi cho được?

Vậy thì sao trong lời tựa vua Lê Thái-tổ lại tự nói là mình viết? Mà trong lời bình người sau lại cũng nhận là của Nhà-vua viết? Cái đó không có gì lạ: Nhà-vua sai ông Trãi viết hộ mình, cũng như viết hộ bài Bình Ngô đại cáo mà thôi. Đọc suốt cuốn sách mà coi, nếu quả vua Lê tự viết, thì dù Ngài hiếu thắng đến đâu, cũng không tự tán-tụng mình đến như thế! Huống chi Nhà-vua lại không phải người hiếu thắng. Về việc lấy nước làm vua, một thì rằng: Bản chí cũng muốn yên thân, không có lòng muốn lấy thiên-hạ; hai thì rằng: Nhờ Tổ-tiên nhân đức, trời, đất, phù-hộ, nên mới được thế! Cho đến dưới bài tựa cũng chỉ xưng mình là Chúa động Lam-sơn, cái hiệu lúc còn làm một vị "lang mường" nho-nhỏ, ...

Tiếc rằng sách đã qua tay các quan đời Vĩnh-trị được vua cho phép đem các sách riêng của họ mà bù thêm vào! Họ bù thêm vào được cái gì? Được mấy đoạn truyện thì hoang-đường, văn thì dốt-nát, mà tôi đã vạch ra trong khi dịch...

Trừ cái vết nhỏ ấy ra, thì "Lam-sơn thực lục" chính là một hòn ngọc ở trong mớ sử-liệu nước nhà. Cái giá-trị nó ở chỗ người đương-thời chép việc đương-thời. Đối với các sử-gia, những tài liệu như thế chẳng phải là dễ kiếm.

Vì lẽ ấy, tôi dịch "Lam-sơn thực lục"

Đêm Thất-tịch Giáp-thân (1944)
Tại nhà xuất-bản Tân Việt
Bảo Thần

   




Chú thích

  1. Của các quan đời Vĩnh-trị.