Tây sương ký/Phần III/Chương IV

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Cảnh thứ nhất: Biệt thự họ Thôi

BÀ LỚN - (ra) Hồi sớm sư cụ sai người sang nói cậu Trương mệt nặng. Tôi đã cho người đi mời thầy lang. Một mặt sai con Hồng sang xem thầy lang dùng thuốc gì, bệnh tật ra sao và mạch lạc thế nào? Về đây nói cho tôi biết (vào).

CON HỒNG - (ra) Bà lớn sai tôi sang thăm cậu Trương. Thưa bà, bà chỉ biết cậu mệt nặng, có rõ đâu đêm qua phải một chuyện ức như thế, không khéo thì đến bỏ mạng chứ chẳng chơi! (vào).

OANH OANH - (ra) Cậu Trương mệt nặng, tôi viết một bức thư, nhưng cứ nói là đơn thuốc, sai con Hồng đem sang, may ra chữa được bệnh chăng? (gọi)

CON HỒNG - (lại ra) Dạ! Thưa cô, con đây!

OANH OANH - Cậu Trương yếu nặng! Ta có cái đơn thuốc hay lắm, em đem sang hộ ta!

CON HỒNG - Cô lại còn... Nhưng thôi! Bà cũng vừa sai con sang. Cô đưa con đem sang nhân thể!

OANH OANH - Ta đợi mày trả lời đó! (Vào. Con Hồng cũng vào)

Cảnh thứ hai: Viện sách

CẬU TRƯƠNG - (ra) Hôm qua trong vườn hoa, tôi tức ngất người đi được. Bây giờ chứng bệnh cũ lại đâu đóng đấy! Thôi! Chuyến này chết mất thôi! Bà lớn bảo sư cụ mời thầy lang đến thăm tôi. Nhưng chứng bệnh của tôi, thầy lang nào mà chữa được! Trừ tiểu thư có đơn thuốc nào hay, họa là chữa được bệnh tôi.

CON HỒNG - (ra) một mình: Cô em đã trêu cho người ta ốm liểng xiểng, bây giờ lại còn sai tôi, bảo đưa đơn thuốc nợ, thuốc tội gì sang. Tôi sang thì sang chỉ làm cho cậu ta ốm thêm thì có.

Bệnh đâu có bệnh lạ đời!...
Thuốc nào là thuốc chữa người tương tư.
Chỉ tại cô: bút hoa tay thảo bức tờ mây, để cho ai đèn sách biếng nhác, đêm ngày mê tơi!
Đến bây giờ bệnh lấp, sầu vùi,
Thở than với bóng! Nói cười với ma!
Cám ơn cô: giết nhau tại tối hôm qua!
Chỉ mày, chỉ mặt, nói xa, nói gần!
Nào những khi tiếng đàn cô lắng khúc đông lân;
Kề hiên cô đợi nguyệt, theo vần cô họa thơ!

Vậy mà đêm qua còn vờ vĩnh: Anh Trương! Tôi với anh là tình nghĩa anh em, sao lại sinh lòng kia khác!

Làm anh chàng tức chết ngất ngơ!

Rồi hôm nay lại: Hồng ơi! Ta có cái đơn thuốc hay lắm, em đem sang cho cậu ấy.

Không đi thì lại mắng xơ cả đầu!
Chiếc thân tôi như sợi chỉ khâu,
Nhọc mình vẫn phải theo hầu trôn kim!
Từ giờ đi, thôi mặc cô nhắn hỏi thăm tìm,
Còn tôi, tôi đứng, tôi xem ngoài vành!
Mịt mờ nước thẳm non xanh!
Nào đâu núi nghĩa, sông tình là đâu!

(Chào cậu Trương, hỏi)

Tội nghiệp cho cậu quá. Hôm nay bệnh thế nào?

CẬU TRƯƠNG - Thật là giết tôi! Tôi mà chết đi, chị Hồng, trước mặt vua Diêm La, thế nào cũng lôi thôi có chị!

CON HỒNG - Gầm trời này có ai ốm tương tư mà lại khổ sở đến như cậu. Cô ơi cô! Cô có biết cho đâu!

Rừng văn, bể học thiết gì!
Gốc hoa, bóng liễu, đi về chiêm bao!
Thực ra nào có chuyện chi nào?
(Rơm kia rậm bụng, ôm vào mà chơi!)
Mê sao mê mãi mê hoài!
Thật từ những lúc: hải đường mới chiềng một, vài bông hoa!

Tại làm sao mà cậu ốm đến như thế?

CẬU TRƯƠNG - Có chị đây, thực tôi không dám nói dối: Cái này chỉ tại tiểu thư! Hôm qua về thư phòng, một cơn tức là một lần chết! Tôi cứu người ta, người ta lại hại tôi! Cổ ngữ có nói: "Con gái giống sinh tình, đàn ông đồ phụ bạc!" Bây giờ thì trái lại thế!

CON HỒNG - Cái đó thì việc gì đến cô em!

Cậu tự mình mang tội dâm tà,
Thịt mòn, xương róc, chắc ma nó sờ!
Giống học trò sao chẳng biết dơ:
Tương tư cóc rác lại tương tư một mình!
Hôn nhân đã chẳng có thành!
Công danh thôi cũng lanh quanh hết đời!

Bà sai em sang xem cậu uống thuốc nào? Đây lại là một cái đơn thuốc hay lắm thế nào ấy, đưa sang cho cậu!

CẬU TRƯƠNG - Đâu?

CON HỒNG - (đưa thư) Đây!

CẬU TRƯƠNG - (mở thư đọc, đứng dậy cười) Sung sướng cho tôi quá! một bài thơ! (vái) Nếu tôi biết trước là cô có thư sang, đáng lẽ phải quỳ xuống mà tiếp mới phải! Chị Hồng ơi! Bệnh tật trong người tôi, tự nhiên thấy khỏi cả rồi!

CON HỒNG - Cậu lại lôi thôi! Khéo không lại hiểu lầm đấy!

CẬU TRƯƠNG - Nào ai hiểu lầm bao giờ! Hôm trước cũng không phải tôi hiểu lầm. Được hay mất chẳng qua là lẽ ngẫu nhiên ở đời.

CON HỒNG - Em chả tin, cậu đọc em nghe nào!

CẬU TRƯƠNG - Chị muốn nghe thơ hay, phải thành tâm khép áo đứng lại gần đây! (Xốc mũ, xốc đai, hai tay cầm bức thư, đọc)

Việc thường chi bận dạ vò tơ!
Mòn mỏi thông minh nỗi đợi chờ!
Tự thiếp giữ gìn là lẽ phải.
Để chàng tai vạ có ai ngờ!
Mối manh tìm lối nhờ thơ mới,
Ân đức mong đền chấp lễ xưa!
Nhắn khách Cao đường ai đó tá?
Đêm nay thì thực có mây mưa!

Chị Hồng! Thơ này lại khác với hôm trước nhiều lắm!

CON HỒNG - (cúi đầu ngẫm nghĩ) À phải! Em biết rồi! Cô ơi cô! Đơn thuốc của cô thế thì hay thật!

Có người thục nữ xinh xinh,
Thảo đơn thuốc gửi cho tình lang coi:
Canh khuya quang quẻ khung trời.
Ngạt ngào hoa quế ngát mùi hương xông …
Thang tìm phải đất tường đông,
Uống vào mát ruột, mát lòng người ta!
Hơn hay cầm đến tận nhà,
Xin chàng quân tử nhận mà xét cho!
Nhưng này thôi! Cậu chớ giở trò!
Làm chi những vẻ điên rồ khó coi?
Tin xuân mong đợi hôm mai,
Được thư nói nói, cười cười hoang mang!
Ấy là một mảnh thư suông!
Gặp con người ngọc, cậu lại cuống cuồng đến đâu!
Nhưng cô em rất mực cơ cầu,
Nghĩ sâu chẳng tưởng, ơn sâu chẳng cần!
Một mình cậu chốn phòng văn,
Gối cây đàn nguyệt! Đắp lần chăn chiên!
Dù cô sang, cô ngủ sao yên,
Rét run đến nẩy người lên còn gì!
Đêm qua canh vắng, vườn khuya,
Một vườn trăng sáng, bốn bề hoa tươi...
Phải duyên ra, chuyện đã xong rồi!
Đâu phiền tờ hẹn, thơ mời hôm nay?
Thiệt tình em bảo cậu hay:
Chăn loan, đệm thúy, em đây sẵn sàng!
Nằm vào ấm thịt, êm xương!
Muốn thuê thì các bạc vàng, em cho thuê!
Thôi liệu mà cổi áo sẵn đi!
Từ rày nguyệt nọ, hoa kia mặc tình!
Phúc nhà ta thật lớn tày đình!

Chẳng nói giấu gì cậu: Cô em ấy à? Cậu bảo người như thế nào nào?

Mày xanh phai nhạt non xuân!
Mắt trong, trong gấp mấy lần sóng thu!
Lưng mềm, tơ liễu đương mùa!
Nước da trắng nõn, sữa vừa mới đông!
Đẹp là mặt! Tốt là lòng!
Tính xem nhã nhặn, người trông thuận hòa!
Không cần thuốc bóp, dầu xoa.
Kể tài cứu khổ chẳng khác Phật Bà Quan Âm!
Tuy vậy, em vẫn không dám tin là cô em lại sang!
Em đương nghĩ ngấm, nghĩ ngầm:
Cậu nên xét lại, hoặc giả lại lầm cũng nên!

CẬU TRƯƠNG - Chị Hồng! Hôm trước khác, hôm nay khác chứ!

CON HỒNG - Không! thưa cậu!

Chuyện hôm xưa hãy gác một bên!
Chuyện bây giờ ta hãy nói nguyên bây giờ!

Em không chắc hôm nay cô em đã chịu sang!

Nửa đêm cô đã chắc sang chưa!...

CẬU TRƯƠNG - Chị Hồng! Tôi xin dặn chị: Sang hay không sang, chị hãy mặc chỗ đó! Chỉ xin thế nào chị cũng lưu tâm cho!

CON HỒNG:

...Tôi có lưu tâm cho cậu bao giờ, trời ơi!
Cậu về biện lễ hẳn hoi,
Ngọc, vàng, gấm, vóc, cho tôi đủ dùng!
Rồi đêm nay bà khóa chặt cửa phòng,
Tha hồ tôi giúp cậu được thỏa lòng nguyệt hoa!

Thưa cậu, em cũng xin dặn cậu: Xin thế nào cậu cũng lưu tâm lấy là hơn! Còn sang hay không sang, em cũng mặc chỗ đó.

Sang, không sang, tự ý cô mà
Thuận hay không thuận, cũng là tự cậu đấy thôi!

Lời phê bình cả chương[sửa]

Bọn ngốc gần đây viết vở hát, theo lệ tất viết bốn chục hồi! Tôi thật không hiểu sao lại không ít hơn, không nhiều hơn, cứ phải viết đủ bốn chục hồi!...

Ông lão Nam Hoa (Trang Tử) có nói rằng: "Con chim bằng, khi bay sang bể Nam, dứt tầng mây, sát trời nam, cách đất chín muôn dặm... Khi đó nó trông xuống đất, cũng như người dưới đất trông lên trời: Cái xanh xanh kia chính là mầu của trời chăng? Hay là tại xa thẳm không cùng mà coi ra vậy!..." Các bậc ông hoàng, bà chúa, sinh ở hậu cung, mình vàng vóc ngọc, nào có biết đâu dưới mái nhà tranh kia, bọn học trò nghèo đói, tại sao lại suốt đêm ngày, ra rả, nhung nhúc, luôn miệng kêu hoài?... Ông Gia Cát Trung Vũ (Khổng Minh) một mình gánh vác việc thiên hạ, cầm trăm vạn quân, binh mã, lương thảo, khí giới, sổ sách, thiên văn, địa lý, khách khứa, án từ, không việc gì là không phải nghĩ đến, thì nào có biết đâu một anh chàng nhà quê khất khưởng, áo đơn, khăn xéo, đi bộ vào hầu, chắp tay thưa chuyện, là trong lòng muốn bày tỏ hay van xin chuyện gì?... Đức Thập trụ Bồ Tát, hiểu biết hết cả tính Phật, phép Phật, thì nào có biết đâu hết thảy bọn chúng sinh ở trong bể sống chết, ra rồi lại vào, vào rồi lại ra, dù có nghìn đức Phật Thế Tôn giáng sinh xuống đời, đi tu đắc đạo, thuyết pháp, độ sinh, xong đó vào cõi Niết Bàn, kể đã lâu lắm, lâu lắm, mà chúng sinh thôi vẫn ra vào trong bể sinh tử như xưa. Như thế thì sung sướng nỗi gì! Thực ra thì các ông hoàng bà chúa không biết bọn học trò nghèo, cũng như bọn học trò nghèo không biết ông hoàng, bà chúa... Cụ Gia Cát Trung Vũ không biết anh chàng nhà quê, cũng như anh chàng nhà quê không biết Cụ Gia Cát Trung Vũ... Đức Thập trụ Bồ Tát không biết lũ chúng sinh chìm đắm, cũng như chúng sinh chìm đắm không biết Đức Thập trụ Bồ Tát!... Cho nên nói rằng: "ấy cũng thế đấy thôi!" mà ngay đến Đức Khổng cũng nói rằng: "Đạo khác nhau, không vì nhau mưu tính". Ở ngoài chằm, con trâu, con ngựa có "tơ" gì đến nhau? Thế nhưng tôi thực không ngờ trong văn chương cũng có chuyện như thế! Hôm qua đọc Mái Tây, nhân nghĩ kỹ đến những vở hát của bọn ngốc, không nhiều hơn, không ít hơn, cứ phải viết bốn mươi hồi, thì tôi thực không biết phép tắc nào mà cứ phải như thế? Đến như văn Mái Tây, làm sao lại gồm có mười sáu chương, thì tôi có thể nói được vậy: Phàm văn chương có chỗ "nẩy"; có chỗ "quét"... Nẩy như nẩy lá, nẩy hoa... Quét như quét hoa quét lá... Thế nào là nẩy? Thế nào là quét? Thế nào là nẩy như nẩy lá nẩy hoa? Thế nào là quét như quét hoa quét lá? Thử coi nhất thiết các cõi đời, trong khoảng hư không, vốn không có chuyện, vậy mà nay bỗng dưng có chuyện... Khác nào trời xuân vốn không có lá và hoa nay bỗng dưng có lá, có hoa... Thế là nẩy. Sau đó người đời vì cớ nghĩ càn, vì cớ lăn lộn, gây ra bao nhiêu chuyện... Thế nhưng những chuyện ấy bỗng dưng lại không có nữa, khác nào xuân tàn hoa rụng thì quét hoa; thu sang lá rụng thì quét lá... Thế là quét. Như vậy thì trong vở Mái Tây, nẩy ở chỗ nào? Quét ở chỗ nào? Chương đầu tiên "gặp gỡ" đó là chỗ nẩy... Chương cuối cùng "tiệc khóc" đó là chỗ quét... Vì trước khi "gặp gỡ" thì chưa có Mái Tây. Chưa có Mái Tây thì còn là hư không... Sau khi "tiệc khóc" thì không còn Mái Tây. Không còn Mái Tây thì lại vẫn là hư không... Đó là chương pháp lớn nhất vậy. Sau đó vào khoảng giữa thì có chỗ đàng này tới, có chỗ đàng ấy tới... Thế nào là đàng này tới. Như chương "xin trọ" là Quân Thụy tới, thế là đàng này tới! Như chương "họa vần" là Oanh Oanh tới, thế là đàng ấy tới... Vì trước kia Oanh Oanh ở trong buồng kín, nào có ngờ đâu ngoài tường lại có Quân Thụy tới nơi trọ! Mà đêm ấy Quân Thụy ở Mái Tây, thực cũng có ngờ đâu trong tường lại có Oanh Oanh tới họa vần. Ví phỏng Quân Thụy không xin trọ thì là Quân Thụy không tới. Oanh Oanh không tới thì cũng không nẩy ra chuyện ấy. Nay Quân Thụy đã mến sắc mà tới, Oanh Oanh lại mến tài mà tới, như vậy là hai bên cùng tới. Hai bên cùng tới thì người bể Nam đã không còn ở bể Nam, người bể Bắc không còn ở bể Bắc … Tuy chuyện đó chưa hẳn có, nhưng trong đó đã có hơi nhỏ sẽ qua, tơ mành ngầm buộc, người ta tuy chửa thấy, song sự thế đã không cản được nữa rồi! Rồi sau đó mới có ba bước "dần dà"... Sao gọi là ba bước dần dà? "quấy đám", bước dần dà thứ nhất; "vây chùa", bước dần dà thứ hai; mà như chương "lần sau" là bước dần dà thứ ba! Bước thứ nhất, Oanh Oanh mới biết người Quân Thụy. Bước thứ hai, Oanh Oanh mới dính líu tới Quân Thụy. Bước thứ ba, Oanh Oanh mới định tình với Quân Thụy. Ba bước ấy gọi là ba bước "được". Sao lại gọi là ba bước "được"? Ví không có chuyện "quấy đám", thì Oanh Oanh có biết mặt Quân Thụy sao được? Ví không có chuyện "vây chùa", thì Oanh Oanh có dính líu với Quân Thụy sao được? Mà không có chuyện "lần sau" này, thì Oanh Oanh có định tình với Quân Thụy sao được? Sao vậy? Vì là đám chay, cho nên sẽ ló mặt xuân được! Vì là lễ Phật, cho nên rời xa gót ngọc được! Không có dịp đó, thì tới cũng chưa chắc đã tới, có những không được biết mặt thôi đâu! Tai biến bất kỳ, cho nên mới được chịu ơn che chở; lời mẹ hứa gả, cho nên mới được viện nghĩa xướng tùy! Không có dịp đó thì làm thế nào mà có ơn cho được, có nghĩa cho được? Đêm hôm nghe đàn, Oanh Oanh kể lể nỗi lòng, chính con Hồng đã được nghe... Đêm hôm lật thư, Quân Thụy sang theo lời hẹn, chính con Hồng lại được thấy... Giờ thì chẳng những được nghe, được thấy, mà còn ai kia sắp chết vì ai, mà đó là chuyện con Hồng tai nghe, mắt thấy rõ ràng, thì Oanh Oanh còn không thương sao được? Còn nề hà sao được? Còn nín nhịn sao được, mà còn không hứa cho sao được? Không có dịp đó thì chẳng những điều con Hồng được thấy, con Hồng sẽ không thấy được, mà đến điều con Hồng được nghe, con Hồng cũng có được nghe đâu! Sau đó thì hai chỗ "gần" và ba chỗ "sểnh". Hai chỗ gần là thế nào? "mời tiệc", một chỗ gần; "lần trước", hai chỗ gần. Gần, nghĩa là suýt được, suýt được nghĩa là vẫn không được. Vẫn không được mà lại bầy ra những chỗ suýt được ấy, đó là phép khởi phục, thay đổi của văn chương. Ba chỗ sểnh là thế nào?: "lật hẹn", một lần sểnh; "lật thơ", hai lần sểnh; "khảo hoa", ba lần sểnh. Có gần thì phải có sểnh. Vì muốn có sểnh cho nên phải có gần. Và cũng vì muốn có gần, cho nên phải có sểnh. Sểnh nghĩa là suýt mất. Suýt mất có nghĩa là vẫn không mất. Vẫn không mất. Vẫn không mất mà lại bày ra những chuyện suýt mất ấy, đó là phép khởi phục, thay đổi của văn chương, đã thế kia thì tất lại phải thế này vậy! Rồi sau đó mới có hai chỗ "không thế không được"... Thế nào là hai chỗ "không thế không được?". Nghe đàn, không thế không được! Tán thơ, không thế không được!... Nghe đàn, con Hồng không thế không được. Tán thơ, Oanh Oanh không thế không được!... Ví phỏng chuyện nghe đàn không thế thì không thành ra con Hồng... Mà con Hồng không ra con Hồng thì Oanh Oanh cũng không ra Oanh Oanh... Vì sao? Vì ghét rằng như kiểu "Cô bé dệt vải, tựa cửa thở than; bà mẹ hỏi han, có sao nói vậy!" Chương tán thơ không thế không thành ra Oanh Oanh. Mà Oanh Oanh không ra Oanh Oanh thì Quân Thụy cũng không ra Quân Thụy. Vì sao? Vì ghét rằng như kiểu "Bích Ngọc vốn con nhà xoàng, quay ngay mình lại ôm chàng Lang Da!" Rồi sau đó mới có một chương tả thực … Cả bộ sách, bảy khúc, tám khuỷu, trăm đầu nghìn mối, bao nhiêu là chữ, là câu, đều kết huyệt cả ở chương tả thực ấy, như các sông đổ cả xuống bể khơi; như các tiên chầu cả về cửa trời; như tin thắng trận bốn phương, báo cả về cung Cam Toàn; như dấu hỏa phù năm cánh, thu cả về đất Lưu Châu... Không biết ngày, tháng, năm nào phát nguyệt, động tay muốn viết bộ sách này; chỉ biết ngày, tháng, năm ấy, đã được gác bút một cách sung sướng! Ấy tức là chương "đáp thư" ở dưới này vậy! Rồi lại có một chương "Tả không"... Cả một bộ sách lớn, bảy khúc, tám khuỷu, trăm đầu, nghìn mối, bao nhiêu là chữ, là câu, đến đây đều không dùng được việc gì! Chẳng khác gì Hạng Vũ đem lửa mà đốt cung A Phòng; Trang, Huệ cãi lý về câu chuyện con cá; thầy lâm Tế giơ tay thụi mạnh, cụ Liêm Thành chèo thuyền đi ngay... Không biết ngày, tháng, năm nào phát nguyệt, động tay muốn viết ra bộ sách này; chỉ biết ngày, tháng, năm ấy, lập tức đem xé tan ra một cách sung sướng! Ấy tức là chương "Tan mộng" ở cuối cùng vậy. Cho nên mười sáu chương Mái Tây, tôi thực có thể hiểu mà nói được. Cho là mười sáu chương cũng được! Cho là trăm, nghìn, vạn, ức chương thu cả vào đấy cũng được. Cho là không có giọt mực nào cũng được. Còn như bọn ngốc ngày nay viết vở hát, không nhiều, không ít, cứ phải viết bốn mươi hồi, thì tôi thật không hiểu họ theo phép tắc nào mà cứ phải như thế? Họ coi Mái Tây "cái xanh xanh đó kia chính là mầu chăng, hay là tại xa thẳm không cùng?..." Mái Tây coi họ cũng "cái xanh xanh đó kia chính là mầu chăng, hay là tại xa thẳm không cùng?... Thì ông lão Nam Hoa đã nói: "Ấy cũng thế đấy mà thôi!..."