Thơ ngũ-ngôn có hai luật lục ra sau này:
Ngũ ngôn luật bằng
| 1° | — | B | b, | t | t | v, |
| 2° | — | T | t, | t | b | v. |
| 3° | — | T | t, | b | b | t, |
| 4° | — | B | b, | t | t | v. |
| 5° | — | B | b, | b | t | t, |
| 6° | — | T | t, | t | b | v. |
| 7° | — | T | t, | b | b | t, |
| 8° | — | B | b, | t | t | v. |
Ngũ ngôn luật trắc
| 1° | — | T | t, | t | b | v, |
| 2° | — | B | b | t | t | v. |
| 3° | — | B | b | b | t | t, |
| 4° | — | T | t, | t | b | v. |
| 5° | — | T | t, | b | b | t, |
| 6° | — | B | b, | t | t | v. |
| 7° | — | B | b, | b | t | t, |
| 8° | — | T | t, | t | b | v. |
Đây là lối thơ ngũ-ngôn tám câu, luật bằng, luật trắc như vậy; nếu muốn dùng 16 câu, thì nối thêm 8 câu nữa, nhưng cũng theo luật ấy làm thêm ra mà thôi.
Hai câu đầu thơ ngũ-ngôn có khi dùng bằng trắc đối nhau ngay cũng được, thì câu thứ nhứt không phải hạ vần nữa. Nếu làm bốn câu thì chỉ có 2 vần; mà làm tám câu thì chỉ có 4 vần mà thôi.
Cứ theo như lối nhứt bất luận, thì chữ thứ nhứt đầu câu ngũ-ngôn, đáng trắc trắc mà dùng bằng trắc cũng được; chớ như đáng bằng bằng mà dùng trắc bằng, thì là khổ-độc cũng không được.
Còn như từ điệu, thể cách, nên thôi xao. nên kiêng kỵ như thế nào, đại khái cũng giống như lối thất-ngôn đã kể ở trên.
Sau này sẽ biên tập các lối thơ của quan Tam-nguyên Yên-đổ và của các bậc danh-nhơn lưu truyền lại, mà chia rành ra từng mục, để cung chư-vị quân-tử nhàn lãm.