Câu hỏi. — Đông-pháp có những xứ nào? — Ai cai-trị cõi Đông-pháp? Hội-đồng Chính-phủ là gì? — Ai đứng đầu các xứ trong Đông-pháp? — Ai đứng đầu một tỉnh?
CHƯƠNG THỨ BẢY
CÚNG-LỄ, HỘI-HÈ
1. — Thờ Thành hoàng.
Đất có Thổ-công, sông có Hà-bá, cảnh-thổ nào có Thành-hoàng ấy, nhân dân thành kính phụng-sự để mong người ủng-hộ cho mọi việc. Nên hiện nay làng nào cũng có thờ một vị Thành-hoàng.
Cũng có nơi thờ những vị thần núi, thần sông, những vị có sự-tích linh-dị, như Đổng-Thiên-Vương, Liễu-Hạnh, những bậc trước có công to[1] với dân, với nước, như Trưng-Nữ-Vương, Trần-Hưng-Đạo, hoặc những bậc đã gây nên một nghề nghiệp gì, như nghề sơn, nghề khảm, nghề đúc đồng, nghề thợ mộc, mà tục gọi[2] là Thánh-sư, Tổ-sư hay là Tiên-sư.
Các vị thần ấy thờ ở đền, miếu (miễu) hay nghè. Còn Thành-hoàng thì thờ ở đình. Đình lại là nơi công-sở để dân làng hội-họp.
Đình, miếu cũng làm theo một kiểu, chỉ khác nhau to[1] nhỏ mà thôi. Đại-để đình, miếu nào cũng có nội-điện là nơi thờ thánh, nhà đại-bái chia làm trung-đình (chánh-gian), tả-gian, hữu-gian và nơi giải-tọa.
Mỗi đình có một người, gọi[2] là thủ-từ, dàn cắt ra ở đấy để coi việc đèn hương, giữ đồ phụng-sự và lau chùi quét-tước cho sạch-sẽ.
Mỗi làng lại phải có tự-điền, tự-trạch, là ruộng-nương hay là hồ ao để lấy hoa lợi cung vào việc tế-tự. Nếu không có tự-điền, tự-trạch, thì dân phải đóng góp với nhau cho đủ khoản công-nhu.