Trang:Nhu tay nhut trinh.pdf/10

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Trang này đã được hiệu đính, nhưng cần phải được phê chuẩn.
— 11 —

Bảy ngày tàu tới Ceylan,[1]
Cù lao nầy thuộc về phần Anglais.
Ba vẹo thước theo bề dài thẳng, 145
Ba mươi lăm, muôn chẳn, bề ngang.
Nhìn xem địa thế rõ ràng,
Trái tim day cuốn lại đàng hướng nam.
Phong khí ấm, đầu năm chí cuối,
Hoa quả thường, có mỗi ngày luôn. 150
Ngọc trai bán biết mấy muôn,
Cực người lặn kiếm tại trong biển nầy.
Xinh tốt bấy! mấy tay đeo ngọc,
Thương hại thay! chúng hộc máu kia.
Nghe ra đất ấy cũng kỳ, 155
Quế thì như củi, gạo thì như châu.
May ở chỗ, các tàu thường ghé,
Cữa biển sâu, tiện thế vô ra.
Có gần hai triệu người ta,
Phần nhiều thờ phật Di-đà Thích-ca. 160
Người ngoại quấc, gần xa tứ hướng,
Có tới nơi, lập hảng bán buôn.
Người đây quừn áo như không,
Đàn bà kha khá, đàn ông sơ sài.
Khi gần tới, ở ngoài bải biển, 165
Pointe-de-galles, nhắm kiển xinh kỳ.[2]
Trên thì núi, dưới có ghe,
Chạy buồm coi giống chim sè cánh bay.
Tàu ngừng máy, ai ai cũng rộn,
Lòng vui mừng, bước xống ghe đò. 170
Một quan là giá đưa vô,
Không xa cho mấy, đều lo sợ chìm.
Ghe tum húm, ngó xem dị dạng,
Dưới chề bề, theo dáng ghe bầu.
Ván tròn, tra cán chèo lâu, 175
Ngánh làm một phía khỏi âu nghiên chiềm.
Lên chơi tối, nghỉ đêm tại quán,
Trả sáu quan, cũng đáng đồng tiền.
Giường bằng sắt, nệm lông chiên,
Mùng sa thanh lịch may liên bịch bùng, 180


  1. Ceylan = Xê-lăn. —
  2. Pointe-de-galles = Boán-dơ-gan. —