Trang:Viet Nam Su Luoc 1.djvu/230

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Trang này đã được phê chuẩn.
218 — VIỆT - NAM SỬ - LƯỢC
 

để chống với giặc Minh, trong 10 năm ấy lại được giang-sơn cũ, và xây-đắp lại nền độc-lập cho Nước Nam.

Đấng anh-hùng ấy, người ở làng Lam-sơn, huyện Thụy-nguyên, phủ Thiệu-hóa, tỉnh Thanh-hóa, họ Lê 黎, tên là Lợi 利. Đã mấy đời làm nghề canh-nông, nhà vẫn giàu có, lại hay giúp-đỡ cho kẻ nghèo-khó, cho nên mọi người đều phục, và những tôi-tớ ước có hàng nghìn người. Ông Lê Lợi 黎 利 khảng-khái, có chí lớn, quan nhà Minh nghe tiếng, đã dỗ cho làm quan, nhưng ông không chịu khuất, thường nói rằng: « Làm trai sinh ở trên đời, nên giúp nạn lớn, lập công to, để tiếng thơm muôn đời, chứ sao lại chịu bo bo làm đầy-tớ người! ». Bèn giấu tiếng ở chỗ sơn-lâm, đón mời những kẻ hào-kiệt, chiêu-tập những kẻ lưu-vong.

Đến mùa xuân năm mậu-tuất (1418) đời vua Thành-tổ nhà Minh, niên-hiệu Vĩnh-lạc thứ 16, ông Lê Lợi cùng với tướng là Lê Thạch 黎 石 và Lê Liễu 黎 柳 khởi binh ở núi Lam-sơn 藍 山 tự xưng là Bình-định-vương 平 定 王, rồi truyền hịch đi gần xa kể tội nhà Minh để rõ cái mục-đính của mình khởi nghĩa đánh kẻ thù của nước.

Việc đánh giặc Minh tuy là thuận lòng người và hợp lẽ công-bằng, nhưng mà thế-lực của Bình-định-vương lúc đầu còn kém lắm, tướng-sĩ thì ít, lương-thực không đủ. Dẫu có dùng kế đánh được đôi ba trận, nhưng vẫn không có đủ sức mà chống-giữ với quân nghịch, cho nên phải về núi Chí-linh[1] ba lần, và phải nguy-cấp mấy phen, thật là gian-

  1. Sách « Khâm-định thông-giám » chép là núi Chí-linh này ở phủ Trấn-định, tỉnh Nghệ-an, tức là ở vào đất Cam-môn, Cam-cát giáp tỉnh Hà-tĩnh. Nhưng xem kỹ địa-đồ thì vua Thái-tổ khởi binh ở Lam-sơn, thuộc huyện Thụy-nguyên, phủ Thiệu-hóa, và lúc ấy vẫn lui tới ở vùng Lạc-thủy, tức là Cẩm-thủy và ở vùng Nga-sơn. Vậy thì núi Chí-linh này không phải ở miền Trấn-định, mà chắc là chỉ ở trong vùng Thanh-hóa mà thôi. Xem như khi ngài thua ở Chí-linh thì chạy về Lư-sơn ở châu Quan-hóa, thuộc phủ Quảng-hóa thì biết. Vả lại ngày khởi nghĩa từ năm mậu-tuất (1418) mà mãi đến năm giáp-thìn (1424) thì ngài mới
(Xem tiếp trang 219)