Xuân nhật

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

I[sửa]

Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt Dịch nghĩa Bản dịch của Wikisource

霜氣曚曨滿地飛,
晨光飄忽恨熹微。
園金橘核猶藏甲,
盆水仙花未解衣。
曉滴幽篁如自泣,
夜鳴獨鶴自安歸。
畏寒懶欲催衣起,
門外常開客亦稀。

Sương khí mông lung mãn địa phi,
Thần quang phiêu hốt hận hy vi.
Viên kim quất hạch do tàng giáp,
Bồn thủy tiên hoa vị giải y.
Hiểu trích u hoàng như tự khấp,
Dạ minh độc hạc tự an quy.
Úy hàn lãn dục thôi y khởi,
Môn ngoại thường khai khách diệc hy.

Ngày xuân
Khí sương mù mịt đầy mặt đất.
Ánh sáng buổi sớm bỗng mờ nhạt trôi đi một cách đáng tiếc.
Ngoài vườn, hạt quít còn trong vỏ.
Trong chậu nước, hoa thủy tiên chưa trút áo ngoài.
Mưa buổi sớm, bụi trúc nhỏ giọt như nước mắt.
Hạc lẻ kêu đêm, tự tìm về nơi yên ổn.
Sợ lạnh không muốn dậy cởi áo.
Cửa ngoài vẫn mở, chắc khách còn thưa.

Khí sương mù mịt mặt đất dầy.
Ánh sáng sớm ngày nhạt mờ thay!
Hạt quít ngoài vườn còn trong vỏ.
Thủy tiên trong chậu áo chửa thay.
Sáng mưa trúc ướt như mắt lệ.
Hạc kêu, chỗ ấm chọn đêm nay.
Cửa ngoài vẫn mở, còn thưa khách.
Tính lười, chưa dậy, áo ngại thay.

II[sửa]

Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt Dịch nghĩa Bản dịch của Wikisource

籬竹橫斜半雨陰,
藤床徙倚坐春深。
鄰童晨起讀三字,
飛鳥偶過遺一音。
詩到窮時無俗骨,
事因醉後有雄心。
老休莫恨賓朋少,
彭澤相知只素琴。

Ly trúc hoành tà bán vũ âm,
Đằng sàng tỷ ỷ tọa xuân thâm.
Lân đồng thần khởi độc tam tự,
Phi điểu ngẫu qua di nhất âm.
Thi đáo cùng thời vô tục cốt,
Sự nhân túy hậu hữu hùng tâm.
Lão hưu mạc hận tân bằng thiểu,
Bành Trạch tương tri chỉ tố cầm.

Mưa bụi u ám, dậu trúc ngả nghiêng.
Rời võng, ngồi nghe, nghĩ về ngày xuân.
Trẻ hàng xóm dậy sớm đọc "tam tự kinh".
Tình cờ con chim bay qua, để lại tiếng kêu.
Thơ đến trong lúc cùng, có cốt cách khác đời thường.
Việc người, sau khi say mới có dũng khí.
Ông già hưu chớ hận vì ít khách bạn.
Bành Trạch chỉ lấy cây đàn làm bạn thân.

Dậu trúc ngả nghiêng gội mưa xuân.
Rời võng, ngồi nghe[1] nghĩ xa gần.
Trẻ nhỏ láng giềng đọc tam tự[2].
Chim qua bất chợt tiếng vọng ngân.
Sau say tâm trí tràn sinh lực.
Gặp cùng, cốt cách chính thi nhân.
Ông hưu chớ hận nghèo khách bạn,
Bành Trạch bạn thân chỉ cây cầm[3].

III[sửa]

Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt Dịch nghĩa Bản dịch của Wikisource

望春不知春已歸,
寒雲漠漠雨霏霏。
廷階芽甲有生意,
上下鳥魚無滯機。
塵世有時黃鶴去,
海波何處白鷗飛。
北窗獨酌頹然醉,
一欲穿鞋上翠微。

Vọng xuân bất tri xuân dĩ quy,
Hàn vân mạc mạc vũ phi phi.
Đình giai nha giáp hữu sinh ý,
Thượng hạ điểu ngư vô trệ cơ.
Trần thế hữu thời hoàng hạc khứ,
Hải ba hà xứ bạch âu phi.
Bắc song độc chước đồi nhiên túy,
Nhất dục xuyên hài thượng thúy vi.

Chờ xuân không biết xuân đã đến.
Mưa lạnh lất phất, mây mịt mù.
Bên thềm, cây đâm chồi, hạt nẩy mầm.
Chim trời, cá nước không muộn tiết.
Trên đời hạc vàng có lúc đi
Ngoài biển, chim trắng bay ở nơi nào?
Cửa bắc, uống rượu một mình say nằm ngả.
Lại muốn xỏ giầy lên chơi núi xanh.

Chờ xuân không biết đã xuân về.
Mù mịt trời mây, mưa lê thê.
Cá mừng nước ấm, chim trời liệng.
Cây nẩy chồi tươi, hạt mầm khoe.
Trên đời hạc vàng đôi khi vắng.
Ngoài khơi chim biển có lúc đi.
Uống say cửa bắc nằm nghiêng ngả,
Xỏ giầy, muốn tới núi xanh kia.

   




Chú thích

  1. Tác giả đau mắt nên thính giác là quan trọng hơn.
  2. Sách Tam tự kinh dạy vỡ lòng cho trẻ con (nd).
  3. Đào Tiềm có cây đàn không dây. Có bạn đến, ông vẫn chơi được những bản nhạc. Chơi xong ông bảo bạn: tôi đã chơi xong, anh có thể về (nd).


Copyright.svg PD-icon.svgTác phẩm này là một bản dịch và có thông tin cấp phép khác so với bản quyền của nội dung gốc.
Bản gốc:

Tác phẩm này, được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1924, đã thuộc phạm vi công cộng trên toàn thế giới vì tác giả đã mất hơn 100 năm trước.

 
Bản dịch:

Tác phẩm này được phát hành theo Giấy phép Creative Commons Ghi công-Chia sẻ tương tự 3.0 Chưa chuyển đổi, cho phép sử dụng, phân phối, và tạo tác phẩm phái sinh một cách tự do, miễn là không được thay đổi giấy phép và ghi chú rõ ràng, cùng với việc ghi công tác giả gốc.

 

Tác phẩm này được phát hành theo các điều khoản của Giấy phép Tài liệu Tự do GNU.