25%

Luật Quyền tác giả Hợp chúng quốc Hoa Kỳ/Chương 1/Điều 113

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Điều 113: Phạm vi các quyền độc quyền đối với các tác phẩm về nghệ thuật, mỹ thuật, điêu khắc

(a). Tuỳ thuộc vào Khoản (b) và (c) của Điều khoản này, quyền độc quyền sao chép các bản sao tác phẩm về nghệ thuật, mỹ thuật, điêu khắc đã được bảo hộ theo Điều 106 bao hàm quyền sao chép tác phẩm trong hoặc trên bất kỳ dạng sản phẩm nào, không phụ thuộc vào việc có tính hữu ích hay không.

(b). Điều luật này không dành cho, đối với người chủ sở hữu quyền tác giả tác phẩm mà mô phỏng thực sản phẩm hữu dụng như nó vốn có, bất kỳ các quyền lớn hơn hoặc nhỏ hơn nào liên quan tới việc tạo ra, phân phối hoặc trưng bày sản phẩm hữu dụng như đã được mô phỏng thực hơn là những quyền dành cho các tác phẩm mô phỏng thực theo quy định của pháp luật hoặc là theo Điều luật số 17 hoặc là hệ thống pháp luật của bang có hiệu lực vào ngày 31/12/1977, như đã được áp dụng và diễn giải bởi toà án trong các vụ khởi kiện đưa ra theo Điều luật này.

(c). Trong trường hợp một tác phẩm được sao chép hợp pháp trên một sản phẩm hữu dụng đã được đưa ra chào bán hoặc phân phối khác tới công chúng thì quyền tác giả sẽ không bao hàm bất kỳ một quyền nào ngăn cản việc tạo ra, phân phối hoặc trình bày tranh hoặc ảnh của những sản phẩm hữu dụng đó liên quan tới quảng cáo hoặc bình luận gắn với việc phân phối hoặc trình bày các vật dụng đó, hoặc liên quan tới các tin tức.

(d)

(1). Trong trường hợp mà:
(A). Một tác phẩm nghệ thuật tạo hình được gắn trên hoặc tạo thành một bộ phận của một công trình xây dựng theo một cách thức mà việc tách tác phẩm đó khỏi công trình này sẽ gây ra sự phá hủy, sửa đổi, cắt xén hoặc thay đổi khác tác phẩm đó như được quy định tại Điều 106A(a)(3), và
(B). Tác giả tác phẩm đồng ý gắn tác phẩm vào công trình xây dựng đó hoặc là trước ngày có hiệu lực quy định tại Điều 610(a) của Luật về các quyền đối với tác phẩm nghệ thuật tạo hình năm 1990, hoặc là bằng văn bản viết được lập vào hoặc sau ngày có hiệu lực đó được ký bởi người chủ sở hữu của công trình xây dựng và tác giả chỉ rõ là việc gắn tác phẩm có thể phải chịu sự phá huỷ, sửa đổi, cắt xén hoặc thay đổi khác tác phẩm đó bởi lý do dỡ bỏ công trình, khi đó các quyền quy định tại Điều 106A(a)(2), (3) sẽ không được áp dụng.
(2). Nếu người chủ sở hữu công trình xây dựng muốn dỡ bỏ tác phẩm nghệ thuật tạo hình mà là một bộ phận của công trình và có thể dỡ bỏ được từ công trình mà không huỷ bỏ, sửa đổi, cắt xén hoặc thay đổi khác tác phẩm như được quy định tại Điều 106A(a)(3), các quyền của tác giả theo Điểm (2), (3) của Điều 106A(a) sẽ được áp dụng, trừ phi:
(A). Người chủ sở hữu đã rất cố gắng và thiện chí mà không thành công trong việc thông báo tới tác giả ý định hành động của mình ảnh hưởng tới tác phẩm nghệ thuật tạo hình của tác giả, hoặc
(B). Người chủ sở hữu công trình xây dựng đã gửi những thông báo đó bằng văn bản viết và tác giả đã được thông báo như vậy đã không trả lời trong vòng 90 ngày sau ngày nhận được những thông báo đó, người chủ sở hữu hoặc là tự dỡ bỏ tác phẩm hoặc là thuê dỡ bỏ tác phẩm đó.

Trong phạm vi của Đoạn (A), người chủ sở hữu sẽ được coi là đã rất cố gắng và thiện chí gửi thông báo nếu người chủ sở hữu này gửi những thông báo này thông qua địa chỉ đăng ký của tác giả tại địa chỉ hiện tại mới nhất được ghi tại cơ quan đăng ký bản quyền theo Điểm (3). Nếu tác phẩm được dỡ bỏ bằng chi phí của tác giả, quyền sao chép tác phẩm đó sẽ được coi là thuộc về tác giả.

(3). Cơ quan đăng ký bản quyền sẽ thiết lập một hệ thống đăng ký nhờ đó mà bất kỳ tác giả của tác phẩm nghệ thuật tạo hình nào đã được gắn hoặc tạo thành một phần của một công trình xây dựng có thể đăng ký tên và địa chỉ với cơ quan đăng ký bản quyền. Cơ quan này cũng quy định các cách thức để những tác giả đó có thể bổ sung thông tin đã đăng ký, và các cách thức này cho phép người chủ sở hữu công trình xây dựng có thể ghi nhận với cơ quan đăng ký bản quyền bằng chứng về nỗ lực của họ trong việc tuân thủ quy định tại Điều khoản này.