Phật lục/III-6

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

PHỔ-HIỀN BỒ-TÁT

普 賢 菩 薩

Phổ-hiền Bồ-tát là dịch theo tiếng phạm Tam-man đa-bạt-đà-la Bồ-tát 三 曼 多 跋 陀 羅 菩 薩 (Samantabhadra Bodhisattva). Hai chữ Phổ-hiền là nói cái tính-thể bao-la khắp cả hết thảy, tức là nói cái chân-lý trị được những vô-minh rất vi-tế mới khởi lên, và dứt được những vô-minh-hoặc, gần ngang bằng Phật. Như vậy Phổ-hiền là vị Bồ-tát chủ về chân-lý, về thiền-định, và sự hành-vi của chư Phật. Tượng Ngài làm
Phat Luc - trang 65.png

Tượng đức Phổ-hiền Bồ-tát ngồi trên con Bạch-tượng

ngồi lên trên con voi trắng, biểu-thị cái chân-lý chắc-chắn trong-sạch, để ở bên hữu tượng đức Thích-ca mầu-ni.

Sách Bí-tạng-ký 祕 藏 記 tả cái hình-dáng của Phồ-hiền Bồ-tát, sắc trắng tay cầm cái hoa sen, ở trên có thanh kiếm sáng lòe. Theo cái thuyết của phái Mật-giáo chân-ngôn, thì Phổ-hiền Bồ-tát tương-lai sẽ thành Phật để nối đức Đại-nhật Như-lai.

Thiên Hành-nguyện phẩm, trong kinh Hoa-nghiêm, nói rằng: « Khi ở hội Hoa-nghiêm trong rừng Thệ-đa, Phổ-hiền khen ngợi công-đức của Phật, rồi bảo các vị Bồ-tát và các vị thiện-tài rằng: Công-đức của thập phương chư Phật, thì nhiều lắm, không thể nào nói cho xiết được. Nếu muốn vào pháp-môn để thành-tựu được cái công-đức ấy, nên tu mười thứ hành-nguyện lớn, gọi là thập chủng quảng đại hành-nguyện 十 種 廣 大 行 願.

Mười thứ hành-nguyện ấy là:

1.— Lễ kính chư Phật 禮 敬 諸 佛.

2.— Xưng tán Như-lai 稱 讚 如 來: Khen ngợi đức Như-lai.

3.— Quảng-tu cúng-dàng 廣 修 供 養: Rộng mở sự cúng-dàng.

4.— Sám-hối nghiệp-chướng 懺 悔 業 障: Sám hối các điều nghiệp-chướng.

5.— Tùy hỉ công-đức 隨 喜 功 德: Vui mừng mà thuận theo công-đức của chư Phật và chư Bồ-tát.

6.— Thỉnh chuyển pháp luân 請 轉 法 輪: Xin quay cái bánh xe phép để cho chúng sinh hiểu biết.

7.— Thỉnh Phật trụ thế 請 佛 住 世: Xin Phật ở lại thế-gian để làm lợi-lạc cho chúng sinh.

8.— Thường tùy Phật học 常 隨 佛 學: Xin thường theo Phật mà học đạo.

9.— Hằng thuận chúng-sinh 恆 順 衆 生: Thường cứu giúp chúng-sinh, làm cho được yên-vui sung-sướng.

10.— Giai hồi-hướng 皆 迴 向: Đem hết công-đức hồi-hướng về chúng sinh, khiến cho cứu-cánh được thành-tựu đạo bồ-đề.

Mười điều hành-nguyện ấy sâu rộng như biển, cho nên gọi là Phổ-hiền nguyện hải 普 賢 願 海, cốt là khiến cho hết thảy chúng sinh đều được biết rõ chỗ nương cậy mà tìm đến chỗ sáng tỏ để giải-thoát mọi điều khổ-não.