Trang:Tục ngữ, cổ ngữ, gia ngôn.djvu/44

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Trang này cần phải được hiệu đính.
— 42 —
  1. Không dau làm giàu biết mấy.
    Tiếng than vận trời trắc trở.
  2. không thầy đố mầy làm nên.
    Không người dạy biểu chỉ vẽ, thì chẳng làm nên việc, ấy là có học mới có hành.
  3. Khoai vò mình củ.
    Mình lại khen mình, bào chuốt cho mình.
  4. Khoang tắc đắc chúng.
    Độ lượng lớn, thì nhiều người tùng phục.
  5. Khúc đột tỉ tân vô ân trạch, tiêu đầu lan ngạch vi thượng khách.
    Vạy bếp dời củi không ơn nghĩa, cháy đầu phỏng trán làm khách trên ; ơn dự phòng cho khỏi lửa thì bạc, công chữa lửa thì hậu.
  6. Kị chỉ thử nhỉ.
    Nghề có chừng ấy. Có một xứ không có lừa, người trong xứ mới đi mua một con đem về để mà coi chơi. Cọp trong xứ ấy thấy con lừa hình tượng cao lớn, thì cũng rình trong bụi mà coi, đến khi nghe con lừa kêu lên thì sợ hãi đâm đầu mà chạy. Song chứng cọp hay tọc mạch, mỗi bữa thường tới mà rình, thấy lừa không có tài gì khác, thì dần làn lại gần, sau hết mới khuấy thiệt, con lừa giận lắm bèn đá một cái ; con cọp nhảy trái ra, rồi lại áp vào mà khuấy, con lừa cũng đá một cái nữa. Con cọp nghĩ trong mình rằng : vậy thì nghề nó có bấy nhiêu mà thôi, liền nhảy chờm cắn cổ con lừa mà ních thịt. Chớ cho người ta biết tâm sự mình.
  7. Kỉ dụ lập nhi lập nhơn, kỉ dục đạt nhi đạt nhơn.
    Mình muốn nên, mà làm nên cho người ; mình muốn hiển đạt mà hiển đạt cho người ; chỉ nghĩa là làm nên cho người, tức thị là làm nên cho mình.
  8. Kì hậu dã bạc, kì bạc dã hậu.
    Chỗ phải hậu lại bạc, chỗ phải bạc lại làm hậu ; dụng đãi không phân minh.
  9. Kị hổ nan hạ.
    Cỡi cọp khó xuống ; nghĩa là thế không dám thôi. Giả như theo giặc không dám bỏ giặc.
  10. Kì phụ nhương dương, nhi tử chứng chi.
    Người cha ăn trộm dê, mà con làm chứng ; ấy là lỗi nghĩa tử vị phụ ân. Nghĩa cha con phải giấu cho nhau.
  11. Kì phùng địch thủ.
    Cờ gặp tay đối địch, chỉ nghĩa là anh hùng gặp anh hùng.
  12. Kiến bất thủ nhi tầm thiên lý.
    Thấy chẳng lấy mà tìm ngàn dặm, nghĩa là thất cơ hội, không biết tính trước.