Bước tới nội dung

Việt Nam sử lược/Quyển II/1971/Phần V/Chương XIV

Văn thư lưu trữ mở Wikisource

CHƯƠNG XIV

LOẠN Ở TRUNG-KỲ

  1. Thống-tướng De Courcy vào Huế
  2. Triều-đình chạy ra Quảng-trị
  3. Nguyễn văn Tường ra thú
  4. Xa-giá các bà Thái-hậu về Khiêm-lăng
  5. Quân Cần-vương
  6. Vua Đồng-khánh
  7. Thống-tướng De Courcy phải triệt về
  8. Vua Hàm-nghi ở Quảng-bình
  9. Ông Paul Bert
  10. Lập Tổng-đốc Toàn-quyền

1. THỐNG-TƯỚNG DE COURCY VÀO HUẾ. Việc đánh nhau với Tàu xong, thì tức là cuộc bảo-hộ ở nước Nam thành. Nhưng ở các nơi, những quan cũ ta còn chống nhau với quân Pháp, mà ở Huế thì Nguyễn văn Tường và Tôn-thất Thuyết chuyên-chế đủ mọi đường.

Tháng 9 năm giáp-thân (1884), hai ông ấy đem ông Dục-đức giam vào nhà tối, không cho ăn-uống để chết đói, đổ tội cho là thông mưu với giặc. Hai ông ấy lại mộ quân tập lính và lập đồn Tân-sở 新 所 ở gần Cam-lộ thuộc tỉnh Quảng-trị, đem đồ báu-ngọc vàng-bạc ra đấy, phòng khi có việc gì thì đem quân ra đó để chống nhau với quân Pháp. Cũng vì các ông ấy có ý muốn kháng-cự, cho nên quân Pháp đã chiếm giữ Mang-cá ở thành Huế và lại bắt bỏ súng đại-bác ở trên thành đi.

Ngày 18 tháng 4 năm ất-dậu (1885), thống-tướng De Courcy sang tới Bắc-kỳ. Bấy giờ sự hòa-ước với Tàu đã xong, bởi vậy thống-tướng mới định vào Huế bắt Triều-đình ta phải chịu quyền bảo-hộ. Thống-tướng đến Hà-nội đã nói chuyện với các người Pháp và những người Nam ra làm quan với Pháp, đã biết tình-hình ở trong Huế là thế nào. Đến ngày 19 tháng 5 thì thống-tướng đem non 500 quân đi tàu vào Huế. Triều-đình cử hai quan đại-thần theo viên Khâm-sứ Pháp là ông De Champeaux ra đón thống-tướng ở cửa Thuận-an. Sáng hôm sau, thống-tướng cho đòi hai quan phụ-chính sang bên dinh Khâm-sứ để định việc vào yết-kiến vua Hàm-nghi.

Hai ông lúc bấy giờ còn đang lừng-lẫy, việc Triều-chính ở tay mình cả, mà thấy thống-tướng làm sự đường-đột như thế, cũng đã tức-giận lắm, lại cứ như lời mấy ông quan cựu-thần nói chuyện, thì ông Thuyết là quan văn làm tướng võ, nhưng hình-dáng thì không được thanh-tú: đầu thì trọc, người thì béo mà đen, cách đi đứng thì không được chững-chạc, sự giao-thiệp và đối-đáp thì không sành. Xưa nay chỉ lấy quyền-thế mà đè-nén người ta, hơi một tí thì lấy sự chém-giết làm oai. Đến khi phải ra theo lễ bang-giao mà đối với một người tướng ngoại-quốc như ông De Courcy thì trong bụng khiếp-sợ không biết ra thế nào.

Ông Tường thì là một tay giao-thiệp giỏi, lại có nhiều mưu-cơ và tài-nghệ ứng-biến, cho nên lúc ấy chỉ có một mình ông Tường sang ra mắt quan thống-tướng De Courcy mà thôi, còn ông Thuyết thì cáo bệnh không sang. Thống-tướng thấy vậy, bảo đau cũng phải khiêng sang.

Tôn-thất Thuyết thấy quan Pháp ra oai như thế, phần thì tức giận, phần thì sợ, lại nhân lúc bấy giờ mới có điềm động đất, mới nghĩ bụng rằng đấy là điềm trời xui-khiến bèn quyết ý sửa-soạn để đánh nhau.

Thống-tướng De Courcy định đến hôm vào điện yết-kiến vua Hàm-nghi, thì phải mở cửa chính, không những là để quan nước Pháp đi mà thôi, nhưng lại phải để cả quân lính cũng đi vào cửa ấy. Triều-đình thấy điều ấy trái với quốc-lễ, xin để thống-tướng đi cửa giữa, theo như sứ Tàu ngày trước còn quân-lính thì xin để đi cửa hai bên, thống-tướng nhất-định không chịu.

2. TRIỀU-ĐÌNH CHẠY RA QUẢNG-TRỊ. Trưa hôm 22 các quan ở Cơ-mật-viện sang dinh Khâm-sứ xin vào bàn-định cho xong việc đi cửa chính, cửa bên, nhưng thống-tướng De Courcy không tiếp. Bà Từ-dụ Thái-hậu sai quan đem đồ lễ-vật sang tặng thống-tướng, thống-tướng cũng khước đi không nhận.

Các quan thấy thống-tướng làm dữ như vậy, đều ngơ-ngác không hiểu ra ý-tứ gì mà khinh mạn Triều-đình đến như thế. Tôn-thất Thuyết càng thấy thế càng lấy làm tức-giận, thôi thì sống chết cũng liều một trận, họa may trời có giúp kẻ yếu-hèn gì chăng? Ấy là tướng-sĩ lúc bấy giờ ai cũng tưởng như thế, cho đến mới định đến nửa đêm khởi sự phát súng bắn sang dinh Khâm-sứ và đánh trại lính của Pháp ở Mang-cá.

Chiều hôm ấy thống-tướng làm tiệc đãi các quan Pháp. Tiệc vừa tan xong, thì súng ở trong thành nổ ra đùng đùng, rồi những nhà ở chung quanh dinh Khâm-sứ cháy, lửa đỏ rực trời. Quân Pháp thấy bất-thình-lình nửa đêm quân ta đánh phá như vậy, chưa biết ra thế nào, chỉ yên-lặng mà chống giữ. Đến sáng ngày 23 mới tiến lên đánh, thì quân ta thua chạy[1]. Nguyễn văn Tường 阮 文 祥 cho người vào điện tâu xin rước vua và các bà Thái-hậu tạm lánh lên Khiêm-lăng[2] Khi xa-giá ra gần đến cửa hữu, thì gặp Nguyễn văn Tường đã chực sẵn ở đấy để đi hộ giá, nhưng lệnh truyền cho Nguyễn văn Tường ở lại để thu-xếp mọi việc. Nguyễn văn Tường vâng lệnh trở lại. Xa-giá đi qua làng Kim-long 金 龍, lên đến chùa Thiên-mụ, thì Tôn-thất Thuyết 尊 室 說 đem quân chạy đến truyền rước xa-giá quay trở về Trường-thi[3].

Lúc bấy giờ vương-tôn công-tử, người đi ngựa, kẻ đi chân, dân-gian thì trẻ cõng già, đàn-bà dắt trẻ-con, ai nấy chạy hốt-hoảng tìm đường tránh cho khỏi chỗ binh-đao.

Xa-giá đến Trường-thi vào nghỉ được một lát, thì Tôn-thất Thuyết lại giục lên đường, nói rằng quân Pháp đã sắp đuổi tới. Tối ngày 23, xa-giá vào nghỉ nhà một người bá-hộ, sáng ngày 24 ra đi, đến tối mới tới thành Quảng-trị. Quan tuần-phủ Trương quang Đản[4] ra rước xa-giá vào Hành-cung và đặt quân-lính để phòng giữ.

Trận đánh nhau ở Huế, quân Pháp chết mất 16 người và 80 người bị thương. Sách tây chép rằng quân ta chết đến vài nghìn người, còn bao nhiêu khí-giới lương-thực và hơn một triệu tiền-của đều mất cả.

3. NGUYỄN VĂN TƯỜNG RA THÚ. Ở Huế, cả buổi sáng hôm 23, quân Pháp chiếm lấy thành-trì và giữ-gìn các nơi. Còn quan ta, người thì đi theo xa-giá, người thì ẩn-nấp một nơi, chưa biết thế nào, chưa ai dám ra. Đến trưa hôm ấy, Nguyễn văn Tường 阮 文 祥 vào ăn cơm nhà ông giám-mục Caspard, rồi nhờ ông ấy đưa ra thú với thống-tướng De Courcy. Thống-tướng cho Nguyễn văn Tường ra ở Thương-bạc-viện, giao cho đại-úy Schmitz và một toán lính Pháp phải coi giữ, và hẹn cho trong hai tháng phải làm thế nào cho yên mọi việc.

4. XA-GIÁ CÁC BÀ THÁI-HẬU VỀ KHIÊM-LĂNG. Nguyễn văn Tường viết sớ ra Quảng-trị xin rước xa-giá trở về Kinh để cho yên lòng người. Nhưng lúc ấy vua Hàm-nghi và tam cung là bà Từ-dụ Thái-hoàng thái-hậu, mẹ đức Dực-tông, bà Hoàng-thái-hậu là vợ đức Dực-tông và mẹ nuôi ông Dục-đức, bà Hoàng-thái-phi là vợ thứ đức Dực-tông và mẹ nuôi vua Kiến-phúc, bị Tôn-thất Thuyết 尊 室 說 gìn-giữ, sớ của Nguyễn văn Tường gửi ra vấn an, ông ấy đem giấu đi không cho vua biết. Ai cũng muốn xin rước xa-giá lên Tân-sở, để lo-liệu sự khôi-phục. Đức Từ-dụ và hai bà Thái-hậu nhất định không chịu đi.

Ngày 27, Tôn-thất Thuyết nghe tin có tàu Pháp sắp đến, bèn xin tam cung ở lại Quảng-trị và xin rước vua lên Tân-sở. Khi sắp đi, vua Hàm-nghi vào lạy ba bà Thái-hậu: tình ly-biệt, nỗi sầu-thảm, kể sao cho xiết! Vua đi khỏi độ một giờ đồng hồ, thì bọn nội-giám đều trở lại nói rằng Tôn-thất Thuyết không cho đi. Đến ngày 28, thì tam cung mới tiếp được tin của Nguyễn văn Tường ra nói xin rước xa-giá trở về Huế, mọi việc đã thu-xếp xong rồi. Bà Từ-dụ cho người đi rước vua trở lại để cùng về Huế, nhưng tìm mãi không biết vua ở đâu, chỉ tiếp được thư của Tôn-thất Thuyết gửi về nói Nguyễn văn Tường phản-trắc nọ kia, xin đừng có nghe. Người bàn đi, kẻ bàn lại, ai nấy phân-vân chưa biết ra thế nào. Ngày 30 lại tiếp được sớ của Nguyễn văn Tường ra giục xa-giá trở về. Đức Từ-dụ mới quyết ý về Kinh, định ngày mồng 4 thì lên đường, sai quan tuần-phủ Trương quang Đản đem quân đi hộ-giá. Đến chiều tối ngày mồng 5, xa-giá các bà Thái-hậu về đến Khiêm-cung. Nguyễn văn Tường dâng sớ lên thỉnh an và kể tình hình mọi việc.

Trong khi vua còn đi vắng, thống-tướng De Courcy đặt ông Thọ-xuân 壽 春 lên làm giám-quốc, giao quyền Binh-bộ thượng-thư cho viên Khâm-sứ De Champeaux, để bãi việc binh-lính của ta đi, và gọi quan Kinh-lược ở Bắc-kỳ là Nguyễn hữu Độ 阮 有 度 và quan Tổng-đốc Nam-định là Phan đình Bình 潘 廷 評 về cùng với Nguyễn văn Tường 阮 文 祥 coi việc Cơ-mật. Vì hai ông ấy ở Bắc-kỳ đã hiểu mọi việc và đã biết theo chính-sách của bảo-hộ, cho nên thống-tướng đem về để thu-xếp mọi việc cho chóng xong. Nguyễn văn Tường và Nguyễn hữu Độ không hợp ý nhau, Nguyễn hữu Độ lại trở ra Bắc-kỳ.

5. QUÂN CẦN-VƯƠNG. Tôn-thất Thuyết ở Quảng-bình làm hịch cần vương truyền đi các nơi, bởi vậy chỉ trừ những chỗ chung quanh Kinh-thành ra, còn tự Bình-thuận trở ra cho đến Nghệ-an, Thanh-hóa, chỗ nào sĩ-dân cũng nổi lên, đổ cho dân bên đạo gây thành mối loạn, rồi đến đốt phá những làng có đạo. Sách tây chép rằng từ đầu tháng 6 cho đến cuối tháng 8, dân bên đạo phải 8 ông cố và hơn 2 vạn người bị giết.

Thống-tướng De Courcy thấy chỗ nào cũng có loạn cả, bèn trở ra Bắc-kỳ, hội các tướng lại để bàn sự đánh-dẹp. Thống-tướng đã định sai đại-tá Pernot đem 1500 quân ở Huế ra đuổi Tôn-thất Thuyết, lại sai thiếu-tướng De Négrier đem một đạo quân đi từ Thanh-hóa đánh vào. Nhưng chính-phủ ở Paris điện sang không cho thống-tướng khởi sự dùng đại-binh, và lại nhân lúc bấy giờ ở Bắc-kỳ và Trung-kỳ có bệnh dịch-tả, quân Pháp chết hại đến ba bốn nghìn người, bởi vậy cho nên việc dùng binh phải đình lại.

Ở Huế thì mãi không ai biết vua Hàm-nghi ở đâu. Triều-đình thì mỗi ngày một rối, việc lập vua mới thì tuy rằng đã định rồi, nhưng còn lôi thôi chưa xong.

Đến ngày 27 tháng 7, vừa hết hạn 2 tháng của thống-tướng De Courcy hẹn cho Nguyễn văn Tường, vả bấy giờ ở Bắc-kỳ lại có nhiều người ghét Nguyễn văn Tường xin thống-tướng đem trị tội. Bởi vậy sang ngày 28, thống-tướng bắt quan nguyên Phụ-chính Nguyễn văn Tường 阮 文 祥, quan Hộ-bộ thượng-thư Phạm thận Duật 范 慎 遹 và Tôn-thất Đính 尊 室 訂 là thân-sinh ra Tôn-thất Thuyết, đem đày ra Côn-lôn. Phạm thận Duật đang đi tàu thì mất, phải ném xuống bể, Nguyễn văn Tường thì sau lại phải đày ra hải-đảo Haiti ở Thái-bình-dương, được ít lâu cũng mất, cho đem xác về chôn ở quê nhà.

6. VUA ĐỒNG-KHÁNH. Thống-tướng De Courcy đày bọn Nguyễn văn Tường đi rồi, đem Nguyễn hữu Độ 阮 有 度 về cùng với Phan đình Bình 潘 廷 評 coi việc triều-chính, sai Nguyễn trọng Hợp 阮 仲 合 ra quyền Kinh-lược ở Bắc-kỳ. Thống-tướng lại sai ông De Champeaux lên Khiêm-cung yết-kiến đức Từ-dụ xin lập ông Chánh-mông 正 蒙 là Kiên-giang quận-công lên làm vua.

Ngày mồng 6 tháng 8, ông Chánh-mông phải thân-hành sang bên Khâm-sứ làm lễ thụ-phong, rồi làm lễ tấn tôn, đặt niên-hiệu là Đồng-khánh 同 慶.

Vua Đồng-khánh tính hiền-lành, hay trang-sức và cũng muốn duy-tân, ở rất được lòng người Pháp; đình-thần thì nhiều người đã biết theo chính-sách bảo-hộ cho nên mọi việc trong Triều đều được yên-ổn. Nhưng vua Hàm-nghi còn ở mạn Quảng-bình, kéo cờ nghĩa chống nhau với quân Pháp, truyền hịch cần-vương đi các nơi để mong đường khôi-phục. Lúc bấy giờ, lòng người còn tưởng-nhớ chúa cũ, cho nên từ tỉnh Bình-thuận trở ra, chỗ nào cũng có người nổi lên đánh phá để toan bề khôi-phục.

Tại Quảng-nam thì bọn thân-hào lập ra Nghĩa-hội 義 會 có quan sơn-phòng-sứ là Trần văn Dự 陳 文 璵 làm chủ, rồi những tỉnh Phú-yên, Bình-định, Bình-thuận đều noi theo mà nổi lên. Tại Quảng-trị có các ông Trương đình Hội 張 廷 繪, Nguyễn tự Như 阮 自 如, ở Quảng-bình có quan nguyên tri-phủ là Nguyễn phạm Tuân 阮 范 遵, ở Hà-tĩnh có cậu ấm Lê Ninh 黎 寧[5]; ở Nghệ-an có ông nghè Nguyễn xuân Ôn 阮 春 溫 và quan sơn-phòng-sứ Lê doãn Nhạ 黎 允 迓; ở Thanh-hóa có Hà văn Mao 何 文 旄, v.v. Những người ấy đều xướng lên việc cần vương, đem quân đi hoặc chiếm-giữ tỉnh-thành, hoặc đánh lấy các phủ huyện, và đốt phá những làng có đạo. Ở ngoài Bắc-kỳ thì các quan cựu-thần là quan đề-đốc Tạ Hiện 謝 現, quan tán-tương Nguyễn thiện Thuật 阮 善 述 tụ họp ở Bãi-sậy, rồi đi đánh phá ở mạn trung-châu, còn ở mạn thượng-du, thì chỗ nào cũng có quân giặc Tàu quấy-nhiễu. Bởi vậy quân Pháp phải chia binh ra chống giữ các nơi.

7. THỐNG-TƯỚNG DE COURCY PHẢI TRIỆT VỀ. Thống-tướng De Courcy thấy ở ngoài Bắc có lắm việc, bèn để thiếu-tướng Prudhomme ở lại Huế, rồi ra Hà-nội kinh-lý mọi việc. Nhưng vì thống-tướng tính khổ-khắc và đa nghi, cho nên công-việc càng ngày càng khó thêm. Ở bên Pháp thì có nhiều người không muốn giữ đất Bắc-kỳ, có ý muốn bãi binh. Bởi vậy đến cuối năm 1885 là năm ất-dậu, thủ-tướng nước Pháp là ông Brisson xin nghị-viện thuận cho lấy ra 75 triệu phật-lăng để chi-tiêu về việc Bắc-kỳ. Nghị-viện đặt hội-đồng để xét việc ấy. Hội-đồng định rút quân về và chỉ cho 18 triệu phật-lăng mà thôi. Đến khi đầu phiếu thì đảng theo chính-phủ được 274 phiếu, và đảng phản-đối với chính-phủ được 270, nghĩa là đảng muốn giữ đất Bắc-kỳ chỉ hơn có 4 phiếu. Thủ-tướng Brisson thấy trong nghị-viện có nhiều người không hợp ý mình bèn xin từ-chức.

Ông Freycinet lên làm thủ-tướng, thấy thống-tướng De Courcy ở bên nước Nam làm lắm việc lôi thôi, bèn điện sang triệt về Pháp, giao binh-quyền lại cho trung-tướng Warnel, và sai ông Paul Bert là quan văn sang sung chức thống-đốc, để kinh-lý mọi việc ở nước Nam.

8. VUA HÀM-NGHI Ở QUẢNG-BÌNH. Bấy giờ tuy ở Huế đã lập vua Đồng-khánh rồi, nhưng đảng cựu-thần còn có nhiều người theo phò vua Hàm-nghi, quyết chí chống lại với quân Pháp. Quan Pháp bèn sai đại-tá Chaumont đem quân ra đóng ở thành Quảng-bình, để chặn đường không cho đảng Tôn-thất Thuyết thông với Bắc-kỳ. Nhưng ở mạn Thanh-hóa, Nghệ-an, bọn văn-thân đánh phá rất dữ. Đại-tá Chaumont bèn để thiếu-tá Grégoire ở lại giữ thành Quảng-bình, rồi trở về Đà-nẵng lấy thêm binh và tàu chiến đem ra đóng ở thành Nghệ-an, chia quân đi tuần-tiễu các nơi.

Tôn-thất Thuyết thấy thế không chống nổi quân Pháp, bèn bỏ vua Hàm-nghi ở lại đồn Vé, thuộc huyện Tuyên-hóa (tên cũ là Qui-hợp-châu) tỉnh Quảng-bình, rồi cùng với đề-đốc Trần xuân Soạn 陳 春 撰 đi đường thượng đạo, nói rằng sang cầu-cứu bên Tàu[6].

Vua Hàm-nghi bấy giờ phải ẩn-nấp ở vùng huyện Tuyên-hóa, có các con Tôn-thất Thuyết là Tôn-thất Đạm và Tôn-thất Thiệp cùng với đề-đốc Lê Trực 黎 直 và Nguyễn phạm Tuân 阮 范 遵[7], hết sức giữ-gìn và đem quân đi đánh phá ở mạn Quảng-bình và Hà-tĩnh.

Tháng giêng năm bính-tuất (1886) trung-tá Mignot đem quân ở Bắc-kỳ vào Nghệ-an, rồi chia làm hai đạo: một đạo thì thiếu-tá Pelletier đem lính tập theo sông Ngàn-sâu vào mạn Tuyên-hóa; một đạo thì trung-tá Mignot tự đem quân đi đường quan-lộ vào giữ thành Hà-tĩnh, rồi vào đóng ở sông Gianh.

Ở Huế lại sai trung-tá Metzniger đem một toán quân ra tiếp-ứng các đạo. Quân Pháp đóng ở chợ Đồn và ở Minh-cầm, rồi trung-tá Metzniger đem ông cố Tortuyaux đi làm hướng-đạo để lên lấy đồn Vé. Thế quân Pháp tiến lên mạnh lắm, quân văn-thân chống lại không nổi, phải tan cả.

Nhưng qua sang tháng hai, ở ngoài Bắc-kỳ có việc, vả lại viên Thống-đốc Paul Bert đã sang đến nơi, chính sách đổi lại cả, cho nên mới triệt các đạo quân về, chỉ đóng giữ ở Quảng-khê, ở Roon và ở chợ Đồn mà thôi. Quân văn-thân thấy quân Pháp rút về, lại trở về đóng ở các đồn cũ.

9. ÔNG PAUL BERT. Ngày mồng 5 tháng 3 năm bính-tuất (1886), viên thống-đốc Paul Bert sang đến Hà-nội. Lập tức đặt phủ Thống-sứ ở Bắc-kỳ và sở kiểm-soát về việc tài-chính. Đến cuối tháng 3 thì thống-đốc vào yết-kiến vua Đồng-khánh ở Huế, và xin lập nha Kinh-lược ở Bắc-kỳ, cho quan Kinh-lược đại-sứ được quyền cùng với phủ Thống-sứ tự-tiện làm mọi việc. Vì rằng ở ngoài Bắc vào đến Huế đường-sá xa-xôi, có việc gì tâu-bẩm vào Bộ mất nhiều ngày giờ lắm, bởi vậy xin cho được tự tiện làm việc, rồi trong một năm độ vài kỳ đem các việc tâu về vua biết.

Thống-đốc Paul Bert ở Huế đến cuối trung tuần tháng 4 lại ra Hà-nội, rồi một mặt thì lo đánh dẹp, một mặt thì mở Pháp-Việt học-đường, lập Thương-nghiệp-cục, đặt lệ đồn-điền. Chủ-ý của thống-đốc là muốn khai-hóa đất Bắc-kỳ ra cho chóng được thịnh-lợi. Nhưng cũng vì thống-đốc phải lo nghĩ nhiều việc, vả lại nay đi kinh-lược chỗ này, mai đi kinh-lược chỗ nọ, thành ra khí-lực suy-nhược đi, cho nên mới cảm bệnh nặng, đến ngày rằm tháng 10 năm bính-tuất (11 tháng 11 - 1886) thì mất. Nhà-nước đem linh-cữu về Pháp mai-táng.

Chính-phủ Pháp sai ông Bihourd sang lĩnh chức thống-đốc thay ông Paul Bert.

10. LẬP TỔNG-ĐỐC TOÀN-QUYỀN PHỦ. Nước Pháp đã lấy đất Nam-kỳ, lập Bảo-hộ ở nước Cao-miên, rồi lại lập Bảo-hộ ở Bắc-kỳ và ở Trung-kỳ, mở ra một cuộc thuộc-địa lớn ở Viễn-đông này; nhưng buổi đầu thì mỗi xứ có một chức thủ-hiến để coi riêng việc chính-trị. Đến năm đinh-hợi (1887), chính-phủ nước Pháp mới đặt phủ Tổng-đốc toàn-quyền để điều-khiển việc chính-trị cả mấy xứ ở nước ta và nước Cao-miên. Tháng 10 năm đinh-hợi (15 tháng 11 - 1887), thì viên Tổng-đốc toàn-quyền mới, tức là viên Tổng-đốc toàn-quyền trước nhất, là ông Constant sang nhận chức tại Sài-gòn.

Từ đó ở các nơi như Nam-kỳ thì có viên Thống-đốc, Trung-kỳ và Cao-miên thì mỗi nơi có viên Khâm-sứ, Bắc-kỳ và Lào thì mỗi nơi có viên Thống-sứ đứng đầu coi việc cai-trị trong hạt; những việc gì quan-hệ đến chính-sách cả toàn cảnh thì phải theo lệnh viên Tổng-đốc toàn-quyền mà thi-hành.

  1. Việc Tôn-thất Thuyết đánh quân Pháp ở Huế, sử ta không nói rõ số quân ta là bao nhiêu. Mà sách Tây có nơi chép là 2 vạn, có nơi chép là 3 vạn. Nhưng cứ những người biết việc ở Huế lúc bấy giờ, thì quân ta cả-thảy độ chừng non 2 vạn trở lại, chứ không hơn.
  2. Khiêm-lăng là lăng của vua Dực-tông, có khi gọi là Khiêm-cung cũng là đấy.
  3. Trường-thi thủa bấy giờ ở làng Đa-chữ cách Kinh-thành 10 cây số.
  4. Trương quang Đản trước làm tổng-đốc Bắc-ninh, chống nhau với quân Pháp, sau về Kinh phải giáng xuống tuần-phủ ra giữ thành Quảng-trị.
  5. Người ở La-sơn, tỉnh Hà-tĩnh, con quan nguyên bố-chính Lê Kiên.
  6. Tôn-thất Thuyết đi đường thượng đạo ra vùng Hưng-hóa rồi theo thượng-lưu sông Đà lên Lai-châu nương-tựa vào họ Điêu. Đến lúc nghe tiếng quân Pháp lên đánh, liền bỏ họ Điêu mà trốn sang Tàu. Con cháu họ Điêu nói chuyện lại rằng: Khi Tôn-thất Thuyết lên đến Lai-châu còn có mấy chục người đi theo. Lên đấy ở một đô, chém giết gần hết. Xem như thế thì ông Thuyết là một người cuồng dại mà lại nhát gan. Một người như thế mà làm đại-tướng để giữ nước, thì tài gì mà nước không nguy được.

    Về sau chết già ở Thiều-châu, thuộc tỉnh Quảng-đông.

  7. Sách ông Gosselin chép là Phạm Thuận. Nhưng xét trong sử nước ta thì không có ai là Phạm Thuận, chỉ có Nguyễn phạm Tuân trước làm tri-phủ, sau theo vua Hàm Nghi chống cự với quân Pháp, rồi bị đạn phải bắt. Vậy Phạm Thuận tức là Nguyễn phạm Tuân.