25%

Luật Quyền tác giả Hợp chúng quốc Hoa Kỳ/Chương 1/Điều 118

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Điều 118. Phạm vi các quyền độc quyền: sử dụng các tác phẩm cụ thể trong việc phát sóng phi thương mại

(a). Các quyền độc quyền quy định tại Điều 106, đối với các tác phẩm được quy định tại Khoản (b) và các hành vi quy định tại Khoản (d), sẽ phụ thuộc vào các điều kiện và hạn chế quy định trong Điều này.

(b). Không trái với bất kỳ quy định nào của Luật chống độc quyền, bất kỳ người chủ sở hữu quyền tác giả đối với các tác phẩm quy định tại Khoản này và bất kỳ tổ chức phát sóng công cộng nào tương ứng, có thể thoả thuận và chấp thuận các điều khoản và tỷ lệ các khoản thanh toán giữa các chủ sở hữu quyền tác giả khác nhau, và có thể chỉ định người đại diện chung để thoả thuận, thanh toán hoặc nhận các khoản thanh toán đó.

(1). Bất kỳ người chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm quy định tại Khoản này hoặc bất kỳ tổ chức phát sóng công cộng nào có thể đệ trình lên Thư viện Quốc hội các giấy phép đề nghị về các hành vi liên quan tới các tác phẩm đó. Thư viện Quốc hội sẽ thụ lý chúng cũng như các thông tin thích hợp khác trên cơ sở của các đề nghị đệ trình. Thư viện Quốc hội sẽ cho phép bất kỳ bên nào có lợi ích liên quan nào đệ trình các thông tin thích hợp liên quan tới trình tự đó.
(2). Các hợp đồng cấp phép được thoả thuận tự nguyện vào bất kỳ thời điểm nào giữa một hoặc nhiều người chủ sở hữu quyền tác giả với một hoặc nhiều tổ chức phát sóng công cộng sẽ có hiệu lực thay thế bất kỳ quyết định nào của Thư viện Quốc hội, với điều kiện là các bản sao của các hợp đồng này được nộp tới Cục Bản quyền tác giả trong vòng 30 ngày thực hiện hợp đồng theo quy chế mà cơ quan đăng ký sẽ quy định.
(3). Nếu không có thoả thuận cấp phép được thương lượng theo Điểm (2), Thư viện Quốc hội, theo quy định tại Chương 8 sẽ nhóm họp Ban trọng tài nhuận bút quyền tác giả để quyết định và công bố tại Cơ quan đăng ký Liên bang Bảng mẫu các điều khoản và tỷ lệ mà, tuỳ thuộc vào Điểm (2), sẽ ràng buộc tất cả các chủ sở hữu quyền tác giả đối với các tác phẩm quy định tại Khoản này và các tổ chức phát sóng công cộng, không phụ thuộc vào việc các chủ sở hữu quyền tác giả có đệ trình đề nghị tới Thư viện Quốc hội hay không. Trong quá trình đặt ra các tỷ lệ và các điều khoản, Thư viện Quốc hội có thể xem xét các tỷ lệ này trên sự tương quan hợp lý với các trường hợp của các hợp đồng cấp phép tự nguyện như được quy định tại Điểm (2) của Khoản này. Thư viện Quốc hội cũng đặt ra các cách thức mà thông qua đó những chủ sở hữu quyền tác giả có thể nhận các thông báo hợp lý về sử dụng tác phẩm của họ theo Khoản này, và theo đó các bản ghi âm của các sử dụng đó sẽ được giữ bởi tổ chức phát sóng công cộng.

(c). Khởi đầu các thủ tục quy định tại Khoản (b) sẽ được lặp lại và được quyết định giữa 30/6 và 31/12/1997, và vào 5 năm tiếp theo sau đó, phù hợp với quy chế mà Thư viện Quốc hội sẽ quy định.

(d). Tuỳ thuộc vào các quy định chuyển tiếp của Khoản (b)(4) và đối với các Điều khoản của bất kỳ một hợp đồng cấp phép tự nguyện nào đã được thoả thuận như quy định tại Khoản (b)(2), tổ chức phát sóng công cộng, trên cơ sở tuân thủ các quy định của Điều này về các Điều khoản và tỷ lệ có thể được quy định bởi Thư viện Quốc hội theo Khoản (b)(3), có thể cam kết các hành vi sau đối với các tác phẩm âm nhạc đã công bố phi sân khấu và các tác phẩm về nghệ thuật, mỹ thuật, điêu khắc:

(1). Trình diễn hoặc trình bày tác phẩm bởi hoặc trong buổi truyền sóng được thực hiện thông qua một trạm phát sóng giáo dục phi thương mại quy định tại Khoản (g); và
(2). Sản xuất chương trình truyền sóng, sao chép bản sao hoặc bản ghi chương trình truyền sóng, và phân phối các bản sao hoặc bản ghi đó, đối với các hành vi sản xuất, sao chép hoặc phân phối được thực hiện bởi một tổ chức phi lợi nhuận hoặc một tổ chức chỉ có mục đích truyền sóng quy định tại Điểm (1); và
(3). Thực hiện sao chép bởi các cơ quan của Chính phủ hoặc bởi các tổ chức truyền sóng chương trình phi lợi nhuận đồng thời với các tổ chức quy định tại Điểm (1), và sự trình diễn hoặc trình bày nội dung của các chương trình đó theo các điều kiện quy định tại Điểm (1) của Điều 110, nhưng chỉ nếu sự sao chép đó được sử dụng cho sự trình diễn hoặc trình bày trong một thời gian không quá 7 ngày của buổi truyền sóng quy định tại Điểm (1), và sẽ bị phá huỷ trước hoặc vào khi kết thúc của thời hạn đó. Phù hợp với Điểm (2), không một người nào cung cấp bản sao của chương trình phát sóng cho các cơ quan Chính phủ, tổ chức phát sóng phi lợi nhuận theo Điểm này sẽ có bất kỳ một nghĩa vụ gì đối với sai sót của các cơ quan tổ chức đó về kết quả của việc phá huỷ các bản sao, với điều kiện là người này đã thông báo cho các cơ quan tổ chức đó yêu cầu về việc phá huỷ theo quy định của Điểm này và ngoài ra với điều kiện là chính các tổ chức này có lỗi trong việc phá huỷ các bản sao đó thì các cơ quan tổ chức đó sẽ bị coi là có vi phạm.

(e). Ngoại trừ các quy định cụ thể tại Khoản này, Điều này sẽ không áp dụng đối với các tác phẩm nào khác với các tác phẩm được quy định trong Khoản (b).

(1). Người chủ sở hữu quyền tác giả đối với các tác phẩm văn học phi sân khấu và các tổ chức phát sóng, trong quá trình thoả thuận tự nguyện, có thể chấp thuận giữa họ với nhau một cách tương ứng về thời hạn và tỷ lệ thanh toán tiền nhuận bút không vi phạm trách nhiệm theo Luật chống độc quyền. Bất kỳ thời hạn và tỷ lệ thanh toán tiền nhuận bút nào sẽ có hiệu lực vào lúc nộp đơn tới Cục Bản quyền tác giả, theo quy chế mà cơ quan đăng ký sẽ quy định.
(2). Vào ngày 3/1/1980, cơ quan đăng ký bản quyền sau khi tham khảo ý kiến của các tác giả và những người chủ sở hữu quyền tác giả đối với các tác phẩm văn học phi sân khấu và những người đại diện của họ, cùng với các tổ chức phát sóng công cộng và những người đại diện của họ sẽ đệ trình lên Quốc hội một báo cáo về nội dung mà các hợp đồng cấp phép tự nguyện đã đạt được liên quan đến việc sử dụng các tác phẩm văn học phi sân khấu thông qua các trạm phát sóng đó. Bản báo cáo cũng nêu lên bất kỳ vấn đề gì có thể phát sinh, và các vấn đề pháp lý hiện tại hoặc các khuyến nghị khác, nếu xác thực.

(f). Không một quy định nào trong Điều này sẽ được diễn giải đến việc cho phép, ngoài các hạn chế được phép như quy định tại Điều 707, chuyển thể sân khấu không được phép một tác phẩm âm nhạc phi sân khấu, sản xuất các chương trình truyền sóng thể hiện nội dung cơ bản của bất kỳ tuyển tập đã xuất bản nào các tác phẩm hội hoạ, điêu khắc hoặc tạo hình, hoặc sử dụng không được phép của bất kỳ phần nào của tác phẩm nghe nhìn.

(g). Như được sử dụng trong Điều này, thuật ngữ "Tổ chức phát sóng công cộng" có nghĩa là một trạm phát sóng giáo dục phi thương mại như được định nghĩa tại Điều 397 của Điều luật số 47 và bất kỳ một cơ quan hoặc tổ chức nào có mục tiêu hoạt động như quy định tại Điểm 2 Khoản (d).