Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca/Cuốn thứ nhì

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

南 圻
風 俗 人 物 演 歌

NAM-KỲ PHONG TỤC NHƠN VẬT DIỄN CA

PAR

Nguyển-liên-Phong

DINH-THAI-SƠN

Dit PHAT-TOAN ÉDITEUR

2e VOLUME — CUỐN THỨ NHÌ

Giá: 0$ 40

能說能行丁泰山今成大業 
蓮𡶶功著作 
歷四秋圓成 
未歲逢知己 
泰山始印行 
敢言新央册 
徒愧𫇰儒生 
筆紙雖柔輭 
能留萬載名 
有終有始阮蓮𡶶老得芳名 

SAIGON

Phat-Toan, Libraire-Imprimeur

55, 57, rue d’Ormay.


1909

NAM-KỲ PHONG TỤC NHƠN VẬT DIỄN CA

CUỐN THỨ NHÌ

Tân-An

(Tiếp theo)

Lửa hương phụng sự thủ thành, Người kêu lăng miểu anh linh thấy thường.
Công thần cơ nghiệp miên trường, Thiệt trời không phụ cột rường quấc-gia.
Giồng thường có cát bồi sa, Người hay chuyên chở đem ra Vủng-gù.
Chợ đông dân số mật trù, Cai-tài, Quản-tập, Tầm-vu, Thủ-thừa.
Chợ Rạch-mát, người nhóm thưa, Kỳ-son, Nhựt-tảo, vừa vừa dể coi.
Vủng-gù đông đảo hẳng hòi, Tham-nhiên, Phó-tí rạch ngòi xứ quê.
Làng Bình-cang, vàm Châu-phê, Gốc xưa chữ đề cám bấy quân ân.
Thuở kia ông Nguyễn-phước-Vân, Đánh Mên dẹp giặc dần dần mở mang.
Khẩn khai mấy sở đất hoang, Đem mình xướng suất cã đoàn quân dân.
Lịnh vua châu bút phê trần, Phước-Vân ruộng khẫn cho phần quản chuyên.
Để làm huyết thực tự điền, Người ta tự hậu kêu miền Châu-phê.
Các chùa miểu rất chỉnh tề, Xuân kỳ thu báo giữ bề lể nghi.
Tang hôn ngộ sự bất kỳ, Đầu đào báo lý thích kỳ vản lai.
Học trường các sở trong ngoài, Mấy thầy giáo-tập dồi mài đợi khoa.
Trường riêng dạy chữ nho ta, Lệ cho ôn cố mới là tri tân.
Bảy ngày lể bái một lần, Người trong đạo chúa chuyên cần đọc kinh.
Thánh-đường phong cảnh đẹp xinh, Các ông Linh-mục giảng minh hết lòng.
Ngôi nhà thầy Hội-đồng Phòng, Cũng là hạng khéo ở trong hạt nầy.
Cực vì nước uống quá gay, Nước mưa nước giếng vừa may đủ xài.
Ngay theo thiết-lộ đường dài, Giáp qua ranh Mỷ một vài ga xe.
Hai bên vườn ruộng phủ che, Súp lê xe thỗi chúng nghe om trời.

Gò-Công

Gò-Công phong cảnh thi:

Thanh lịch Gò-công xứ biết chơi,
Địa linh nhơn kiệt quả như lời.
Vỏ-công hùng cứ bia ngàn thuở,
Phạm-Tộc phủ thờ quới một nơi.

Phát trước nhiều ông danh tiếng rạng,
Nối sau chán kẻ hiển vinh đời.
Năm thìn ruổi mắc cơn giông bão,
Dựng lại bằng xưa cũng phước trời.

Gò-công huyện nhỏ một nơi, Mà danh tiếng tốt từ đời Gia-long.
Thuở đương đạo tặc hành hung, Có ông Vỏ-Tánh xưng hùng Tước-nguyên.
Tây-sơn kinh quá đến miền, Kéo ra áp đánh giết liền chẳng tha.
Tụ binh hơn vạn người ta, Giữ gìn nội hạt gần xa an nhàn.
Làu làu một tấm trung cang, Hẫy chờ chúa rạng mới an đề huề.
Nghe Cao-Hoàng, ở Xiêm về, Đem quân bộ hạ chĩnh tề qui lai.
Tam hùng tiếng nổi thuở trai, Ngày nay tá quấc bao nài gian nan.
Hiện còn miễu ở trong làng, Nơi Châu-thành-phố rỏ ràng anh linh.
Một vùn chánh-khí lưu hình, Ngài lên giàn hỏa tại thành Qui-nhơn.
Hồn tiêu phách hóa chi sờn, Phải trang hào kiệt danh huờn non sông.
Bốn mùa hương hỏa thạnh sung, Bởi vì hương chức Gò-công có lòng.
Kẻ nhiều người ít chung cùng, Lập thành Hội-quán-quấc-công miên trường.
Cuộc đời trãi mấy tan thương, Dấu roi thủy thổ quấc vương của mình.
Củng là trung hậu chơn tình, Lưu truyền hậu thế phụng hành chiêu chương.
Gò-công nhiều ruộng ít vườn, Cả trong toàn hạt cao lương địa phì.
Xem trong mấy hạt Nam-kỳ, Gò-công đất nhỏ lắm thì phát quan.
Cựu-trào Quấc-mẩu Tiên-hoàng, Tân-trào kế phát chức sang liền liền.
Đốc-phủ, Phủ, Huyện, quan viên, Tre tàng măn mọc hậu tiền nối nhau.
Bốn tổng dân cư đông giàu, Mà tiếng có một Bà-Hầu giàu to.
Hãi-vật cá, tôm, cua, sò, Thứ tươi thứ hắp thứ kho bộn bàn.
Cải-bẹ xanh, trồng nhẫy tràng, Cải-dưa, ngồng-cải, tiếng càng đồn xa.
Thường khi tiền bạc vô ra, Đủ ăn đủ bận nhà nhà ấm no.
Cà cuống vật cũng lạ cho, Con-đuôn béo ngọt thơm tho mĩ miều.
Chà-là trong ngọn có nhiều, Rừng kề mé biễn mọc đều giăng giăng.
Hết đông sang lại đầu xuân, Chánh mùa ấy có đuôn ăn chà-là.
Vật hay bỗ dưởng người ta, Mấy hạt gần biển sanh ra đuôn nhiều,
Thuở kia Truông-cóc quạnh hiêu, Chỗ nhiều hùn cọp người đều sợ ghê.
Nay đà khẩn phá tư bề, Lợi nhờ rẩy ruộng phủ phê ở đời.
Tiếng xưa đám Lá-tối-trời, Có ông Trương-Định trã phơi gan vàng.
Một phương cờ nghĩa nổi vang, Xưng làm Đại-tướng giúp an Triều-đình.
Ai dè cô chưởng nan minh Lưởi gươm đâm bụng liều mình như chơi.
Nên không số hệ ở trời, Há đem thành bại luận người hùng-anh.
Làm trai cho có thân danh, Dấu bia tạc với non xanh chẳng già.
Nay còn một gã tôi nhà, Tên Đốc-binh-Chấn cũng là thảo ngay.
Bền lòng chẳng chút động day, Đai cơm bầu rượu no say phận nghèo.
Thương thầy gặp lúc hiểm eo, Riêng làm ngôi miểu thờ theo lối vườn.
Viên quan chức sắt bỗn hương, Rủ nhau kiện Chấn tụng-đường lôi thôi.

Kế vừa bảo tới một hồi, Ngày nay chưa biết tu bồi nữa không.
Ngọn rau tấc đất khuyên cùng, Chớ lòng bạc cựu chớ lòng hận tân.
Xưa kia đất ấy những bần, Lá-dừa rậm rạp nhơn dân chưa về.
Ngày nay khai phá ê hề, Đâu đâu bờ cỏi chĩnh tề cân phân.
Bình-phục-nhì thôn cũng gần, Tổng Hòa-đồng-thượng địa phần Rạch-trâu.
Tiếng truyền Rạch ấy đã lâu, Thường niên trâu dậm khỏi âu cạn cùng.
Chuyện thì không mấy lạ lùng, Song mà tập tục phải dùng thuở nay.
Gò Sơn-qui, cảnh tốt thay, Mã quan Thượng-lể chôn ngay giữa chừng.
Ngài là tên Phạm-đăng-Hưng, Đốc sanh Từ-Dủ Tiên-quân Mẩu-hoàng.
Quấc-công truy tặng rỏ ràng, Nhà thờ Phạm-tộc tại làng Giồng-qui.
Tiếng còn thích-lý vỉnh vi, Bông hoa cây trái vật gì cũng xinh.
Thiệt là một chổ địa linh, Phát Hoàng-thái-hậu hiển vinh họ hàng.
Năm trước ngự-giá ngai vàng, Vua Thành-Thới đến viếng an phủ thờ.
Hai bên hương-án đầy bờ, Viên quan Hương-thức chực hờ bái nghinh.
Lể nghi phẩm tiếc nghiêm minh, Cữu-trùng hoan hỉ lạc tình thiên nhan.
Gò-công nước uống gian nan, Mà nơi giồng ấy nước càng ngọt hơn.
Đất nhằm kiết cuộc thủy-sơn, Như mô rùa dạn, thường cơn vun hoài.
Tả long hữu hổ an bài, Hộ phò con cháu rộng dài bền lâu.
Vững vàng giềng mối về sau, Giữ gìn cội gốc sữa trau vun trồng.
Cậu-hai Ân, Cậu-tư Trung, Nay đều thăng thọ ban dùng chức sang.
Hàng-lăm-thị-dản rỏ ràng, Phấn vua ơn nước thêm càng vinh hoa.
Gò-công tiểu hạt tuy là, So bề danh giá ai qua đặng nào.
Ông Huỳnh-công-Tấn ngôi cao, May thời gặp vận như phao một hồi.
Trở thương ông Định vừa rồi, Quấc-gia trọng thưởng chức ngồi Lảnh-binh.
Nổi lên sự nghiệp hiển vinh. Mau tràng mau nhẩy như chình nước nghiên.
Cuộc chơi chẳng tiết đồng tiền, Đá cân làm bạc vạn thiên chi màng.
Mấy năm oanh liệc một tràng, Ruộng vườn dinh dảy giàu sang ai bì.
Sự đời nháy mắt hưng suy, Thiên cơ báo ứng tốc trì hiển nhiên.
Bao nhiêu hoa ốc phi điền, Lang tôn quế tữ hóa miền không không.
May còn thạch trụ ghi công, Dựng nơi trước chợ Gò-công rỏ ràng.
Còn hội Chùa-ông trong làng, Nguyên khi Ông-Tấn làm quan có quyền.
Cúng vào một sở gia điền, Rủ thêm hương chức chung tiền lập ra.
Ngày nay huê lợi ruộng nhà, Mỗi năm thâu đặng hơn ba trăm đồng.
Anh em trong hội niệm lòng, Nơi nhà Tiền-Vãn tại dòng trung gian.
Thờ Huỳnh-công-Tấn nghiêm trang, Có hai câu đối rở ràng còn nguyên.

Câu đối ông Đốc phủ Tường điếu ông Lảnh-Tấn:

富貴是倘來轟烈雄心輕一擲
聲名應不朽抑揚公論付千秋

Dinh quan Chánh-bố phía tiên, Nhà-thương nhà-phước cất liền xanh quanh.
Đình thần ở giữa châu thành, Trước thì Nhà-việt rộng thinh hai bề.
Xe hai bánh sắm ê hề, Ghe-lồng ghe-cữa các bề đẹp đông.
Văn chương đờn địch sảo thông, Rổ-ô lại với mát-thong khéo nghề.
Miểu chùa tuy ở xứ quê, Lể nghi tế tự chỉnh tề thạnh sung.
Gốc nhờ đạo thánh vung trồng, Nên người khẳn khái hẩy lòng sắt son.
Tang, Hôn, phẩm tiết vuôn tròn, Vãn lai thù tạc tục còn tương đôn.
Hòa-lạc-hạ, Bình-ân-thôn, Thành-hoàng miểu vỏ nghiểm tôn tu bồi.
Bảy lầu bảy nóc một ngôi, Qui mô cách thức chiếm khôi các đình.
Tước-nguyên chỗ thiệt có danh, Giàu sang cũng lắm lịch thanh cũng nhiều.
Đường nước không có bao nhiêu, Từ vàm vô chợ rạch đều quanh co.
Đã có xà-lúc tàu đò, Lại thêm Lục-tĩnh tàu to ghé hoài.
Rạch-chùa cầu bến ở ngoài, Mỗi tuần Chúa-nhựt đặng vài lần qua.
Côn, Kình, bặc dấu phong ba, Người an nệm chiếu hãi hà bất dương,
Mới lập đôi sở Thánh-đường, Đọc kinh xem lễ ngày thường chưa đông.
Trường-quan trường-tỗng ngoài trong, Mấy thầy dạy dỗ vẹn xong phận mình.
Hậu sanh cần mẫn học hành, Dần qua trường lớn tạo thành hữu nhơn.
Ông Chủ Thiều, ông Huyện-Nguơn, Với thầy Tú-Hội rượu đờn phú thi.
Ông Quãn-Tá chuyên nghiệp y, Chủ-Hùng, Cã-Thuận đều qui diêm-đình.
Ông-Tá nho nhã hiền lành, Ông-Hùng, Ông-Thuận miểu đình sữa sang.
Thương thay thế biến ly loàn, Khuôn viên lớp trước điêu tàn không lưa.
Hồi còn đạo học dây dưa, Văn chương phong nhã cách chưa tiêu mòn.
Lâu lâu qua đến đời con, Thói đời lần đỗi vuôn tròn đặng đâu.
Vậy nên mấy cậu sanh sau, Chữ Tây ăn học lo cầu xuất thân.
Thầy Phó-tỗng, Huỳnh-đình-Ngân, Việc quan khẳn khái thận cần mẫn thông.
Trước làm Địa-hạt Hội-đồng. Mỗi khi nhóm cãi Gò-công đặng nhờ.
Gốc nhà nghĩa chỉ nhơn cơ, Cha xưa biết học đến giờ còn danh.
Hiện tồn sự nghiệp kinh dinh, Mẹ thì giàu lớn châu thành Tước-nguyên.
Chợ-Giồng thầy Cai-tổng Yên, Người thông chữ nghỉa đức hiền tánh chơn.
Xã-thôn nhiều kẻ man ơn, So coi các tỗng tốt hơn người nhiều.
Lắm trang gia phú lẩn kiêu, Tiềm trang kinh sữ vắn hiêu trong làng.
Giáp-thìn trận bão tan hoan, Bước qua Ất-tị họa man cào cào.
Gò-công xiết mấy hư hao, Trời sanh trời dưởng biết sao mà phòng.


Bến-Tre

Bến-tre phong cảnh thi:

Thuở cựu thuộc về tỉnh Vĩnh-long,
Bến-tre cảnh tốt lại người đông.
Đại khoa cờ biễn danh còn tạc,
Thỗ sảng điền viên lợi thạnh sung.
Đất lịch dân hào trong mấy rạch,
Xóm nhơn nhà nghĩa các nơi giồng.
Tổng làng viên chức đều nho nhả,
Tập tục mỷ thuần gốc cổ phong.

Bến-tre địa cảnh thạnh sung, Hai mươi mốt tỗng viên nông bỉ bàn.
Phân ra hai phía rỏ ràng, Phía Minh phía Bảo khắp ngàn tươi xinh.
Sao rằng phía Bảo phía Minh, Phía Minh các tổng chữ Minh đứng đầu.
Phía Bảo chữ Bảo đứng đầu, Cù-lao hai phía rộng sâu nhặc dày.
Phía Minh là phía Mỏ-cày, Trên thì Ba-vát dưới rày Băng-cung.
Phía Bảo là phía Mỷ-lồng, Vơi vơi dặm thẳng thấu giồng Ba-tri.
Trải xem hai phía thổ nghi, Dân nhờ vườn ruộng lắm khi an nhàn.
Bến-tre thành-phố nghiêm trang, Bên phan bên niết lớp lang tư bề.
Tàu đò thường bữa đi về, Ghe-đò các chợ chực kề rước đưa.
Ghe buôn lớp nhặt lớp thưa, Đậu theo bực thạch vừa vừa chen nhau.
Phố phường lớp trước lớp sau, Lớp trước trù mật lớp sau dể xài,
Hạ-bạc sở nghệ lưới chài, Tôm, cua, sò, vọp, bán hoài cả năm.
Mía, dừa, cây trái tiền trăm, Hái rồi thì lại mùa nhằm hóa sanh.
An-hội sở tại Châu-thành, Truy nguyên thuở trước đất ranh ba làng.
Đến sau nhập lại một làng, Sắt-thần ba đạo rỏ ràng còn y.
Ngày nay tục ngữ cũng kỳ, Mỗi khi thề rũa tức thì vang rân.
Kêu rằng An-hội ba thần, Anh linh hiễn hích ông cần chứng tri.
Trải bao vật oán tinh di, Giữ gìn lể nghĩa phẩm nghi đủ bề.
Cựu tân hương chức chĩnh tề, Nam thanh nữ tú đất quê người hào.
Từng trên nhà việc rộng cao, Có mua các sách trữ vào sẳng nơi.
Để khi thong thã nghĩ ngơi, Cỗ kiêm sự tích xem chơi lần mò.
Người quan vỏ tánh học trò, Ngụ làng An-hội tên Nho họ Bùi.
Nay đà hưu trí nghĩ thôi, Ưa coi truyện sách ham vui thơ tuồng.
Tính thành lập nghiệp bán buôn, Lợi vào ước đặng tiền muôn bạc ngàn.
Tùy thời an phận thanh nhàn, Vô kiêu vô siễm bảo toàn lâu xa.
Bến-tre có một đờn bà, Vợ ông phủ Dưởng cũng là giàu sang.
Sanh ra con ngọc cháu vàng, Bên trai bên gái hiễn vang đông dầy.

Con trai Nguyễn-hữu-Long nay, Xe hơi mua sắm đỗi thay thường thường.
Ba-tri lên xuống một đường, Bâm-lăm ngàn thước dặm trường vơi vơi.
Đở cho hành khách thảnh thơi, Với thơ ống trạm các nơi tỗng làng.
Khá khen Long thiệt có gan, Tốn hao bạc vạng ngày càng rạng danh.
Bi chừ công chuyện huờn thành, Dần dần may cũng lợi sanh đặng nhiều.
Quan Dinh-điền thuở cựu triều, Tên là Phạm-Chánh tuỗi cao phước dày.
Nay còn con cháu đông dầy, Giàu sang phấn phát sum vầy làm ăn.
Quan Đốc-phủ-sứ vinh thăng, Quấc gia thưởng thọ mẫn cần ngày nay.
Ngài là tên Nguyễn-văn-Hay, Bến-tre để lỵ từ ngày Huyện quan.
Mười bốn năm, ở Trúc-giang, Ăn chơi tiếng ngợi tổng làng gần xa.
Bính-ngủ hâm mốt tháng ba, Tiệc bày khánh hạ tại nhà nghiểm tôn.
Phủ, Huyện, Thông-phán, Thông-ngôn, Với Cai Phó-tổng thạnh tồn lể dung
Biển vàng Vạn-lý-thanh-phong, Dây-đai rực rở để trong Long-đình.
Các bàn Rượu Pháo nghiêm minh, Mổi bàn đều có sắm sanh lọng hầu.
Sinh ca nhạt trổi giây lâu, Một Phủ hai Huyện thêm sau mấy Thầy.
Lể nghi đưa đến van dầy, Quan Đốc khăn áo ra rày tiếp nghinh.
Ví như Sắc-mạng-triều-đình, Lòng người kính sợ lòa mình gấm thêu.
Chánh-bồ-quan chúc mọi đều, Kể ra công cán bao nhiêu đành rành.
Nhung binh tùng sự Bắc-thành, Đường tên muổi đạn liều mình lửa thang.
Trước đà trải hết gian nan, Trời nay hậu báo cho trang phước thần.
Tiết ngài nhiều phước ít phần, Ham vui quên lững nổi tân khổ nhà.
Thiên kim tán tận đã đà, Ruổi may may ruổi thế mà biết sao.

Coi bài thơ phía sau:

督撫使阮咍従事北圻現冇南官題贈詩甚多姑錄其畧 
廣威知府進士阮忠勸贈詩云 
謳亜千秋啟世英遊軒重駕傘山城五經而外竒勲業四海之 
交播姓名籍籍能聲双帥幕詢詢雅態一書生两邦恩賞 
均瀀渥四美兼全四佩星 
如西副使武文豹贈 
早著英聲其人得芹海梅巖之秀可為小相永譽在濃山珥水之間 
山興宣縂督髙春育贈 
辞令益人两國衣裳信與睦壽福兼傳一堂慈孝祖看孫 
尚上詩皆用錦綉姑錄其三以見平素好心多得人悅服 

Các nơi Giồng-án Cù-lao, Nhơn dân đông đảo thổ hào phì nhiêu.
Bến-tre đường nước quá nhiều, Đi trong ngòi rạch dể đều chở chuyên.
Trầu xà-lẹt, bán mảng niên, Chuối, cau, dừa, quít, ghe liền ra vô.
Hỏi thăm các lái thương hồ, Cái-mơn Giồng-sây tốt đồ vườn hơn.
Tiếng đồn một sở Cái-mơn, Nhà-thờ nhà-phước nguồn cơn phú cường.
Trại-cưa, Lò-gạch, Nhà-thương, Vài trăm người ở thường thường gia công.

Phân minh thứ lớp ngoài trong, Học may học chử với cùng học thêu
Dừa cau vườn tược quá nhiều. Địa linh nhơn kiệt mỉ miều người ta.
Truy nguyên tích trước đã xa, Đất nhằm cuộc tốt trổ ra sỉ hiền.
Ông Trương-vỉnh-Ký sanh tiền, Song thân cội gốc ở miền Cái-mơn.
Hai bên yêm ái như đờn, Trau dồi đạo đức nghĩa nhơn trong nhà.
Mỏ-cày cảnh rất hào hoa, Người xưa danh giá có bà An-nhơn.
Giàu mà tích đức tu nhơn, Sanh con thi đậu Cử-nhơn Tú-tài.
An-nhơn phước đức lâu dài, Cựu trào khoa hoạn ba trai đã thành.
Tân-trào lại nối gia thinh, Chiêu là chắc nội học hành nên danh.
Ra làm Đốc-học Đông-kinh, Tánh thêm nho nhả thông minh khác thường.
Lưu truyền trung hậu từ lương, Thơ hương kế mỷ văn chương báu nhà.
Cầm-đường thong thả huyền ca, Ông Vỏ-văn-Vạn thật là thanh liêm.
Tánh hay nho nhả khiêm khiêm, Phủ trung vô sự yên điềm nhơn dân.
Mỏ-cày cai trị mấy xuân, Tổng làng đều thảy cảm ân an nhàn.
Hồi hưu dưởng lảo vẹn toàn, Bảo thân minh triếc coi càng khéo khôn.
Minh-huệ tổng Thành-thiện thôn, Đất nhiều vườn ruộng tục đôn mỷ thuần.
Đẹp bấy nhà Cai-tổng Xuân, Ba đời làm tổng người xưng đức hiền.
Con là thầy Cai-tỗng Yên, Thăng làm Tri-phủ ở miền Kiên-giang.
Cháu là thầy Phó-tổng Vàng, Đương kiêm hiện tại giàu sang nhơn nghì.
Người đều thương kính yêu vì, Bởi xưa tích thiện lưu kì tữ tôn.
Minh-huệ-tổng, Phú-trạch-thôn, Tiền-hiền vi phái tiếng đồn đều nghe.
Thuở kia Phú-trạch tư bề, Đất oan rừng buội cọp kề nhơn dân.
Ông chủ Vỏ, có phước phần, Tại mương Bà-Liểu dần dần mở mang.
Dựng nên địa cuộc trong làng, Thần-từ miểu-vỏ tốn càng định phương.
Tánh hay chiêu đải hiền lương, Sùng nho trọng đạo sữa đương mối giềng.
Âm minh nay đã tách miền, Dấu roi công đức tiền-hiền một ông.
Anh em bỉnh chánh thôn trung, Đều là nhơn hậu khiêm cung nết thuần.
Con trai lớn, tên Duy-Hưng, Hội-đồng địa-hạt tánh từng ruột gan.
Giữ niềm thần tỉnh mộ khan, Phụng nuôi từ-mẩu chí an thủ thành.
Chuyên nghề nông mẩu cần canh, Dạy em, con cháu, học hành nghĩa phương.
Truy nguyên cựu tích tỏ tường, Thuở hai ông cố lắm đường gian nan.
Ông-cố-nội, lập Tú-sang, Còn ông-cố-ngoại lập làng Tân-hương.
Qui mô vĩnh viển cữu trường, Để cho con cháu thạnh cường kéokhôn.
Minh-phú-tổng, Đại-điền thôn, Ông Nguyễn-tấn-Quới gia môn đức hiền.
Làm Cai-tổng đã kinh niên, Công lao giúp nước nhọc siêng nhiều bề.
Sữa sang phong hóa chĩnh tề, Các làng mỷ tục chẳng hề sai ngoa.
Giáp-thìn trận bảo tháng ba, Bốn ngàn giạ lúa đem ra chẫn bần.
Tu nhơn tích thiện nhiều lần, Quấc gia thưởng thọ vinh thăng Huyện hầu.
Gốc xưa phước đức bền lâu, Tữ tôn lang quế ngày sau nối dài.
Sanh Nguyễn-tấn-Hoài là trai, Ruột gan trải đải ít ai dám bì.
Tánh hay kiến nghĩa đương vi, Trọng người khinh của bất kỳ gần xa.
Nghề văn sảo biết Lang-sa, Vỏ thì học đủ vỏ Ta vỏ Tàu.

Mình không ỷ thế sang giàu, Nhứt sanh hào hiệp người âu biềt lòng.
Chức làm Địa-hạt-hội-đồng, Quan yêu dân chuộng bởi lòng liệc oanh.
Thượng-ti tuyễn cữ tánh danh, Sai qua đấu xảo bên thành Mạt-sây (Marseille).
Tan bồng hồ thỉ ngày nay, Bốn phương cung kiếm phĩ rày chí trai.
Thảo ngay hai chữ dồi mài, Danh thơm tạt để lâu dài hiển vinh.
Năm rồi ứng cử ra tranh, Hội-đồng quản-hạt nên danh Biên-hòa.
Gặp cơn tăng thuế điền gia, Đồng lòng chống chỏi rũi đà từ hưu.
Cho hay sự tại nhơn mưu, Gẩm âu thiên mạng chẳng cưu dạ phiền,
Tốt thay phong cảnh Đại-điền, Tục hay nhơn nghĩa xóm giềng tương đôn.
Cũng là một chổ đại thôn, Có ông cự phú tiếng đồn hương Liêm.
Tên bộ là Huỳnh-ngọc-Khiêm, Tuỗi dư bảy chục chỉnh nghiêm cữa nhà.
Vợ chồng lương thiện từ hòa, Song song trường thụ ông bà đũ hai.
Sanh con bên gái bên trai, Nghi gia nghi thất kim giai trưởng thành.
Bởi nơi phước đức làm lành, Tử tôn phát đạt hiển vinh nối đời.
Nhơn cơ nghĩa chỉ không dời, Tu thân hành thiện lộc trời bền lâu.
Bến-tre nước chảy sông sâu, Các đường lộ cái có cầu lại qua.
Thái-bình thạnh trị lâu xa, Dấu xưa phong nhả roi mà đến nay.
Ông Lương-khắc-Ninh rất hay, Nhựt-trình Nông-cổ khéo bày Quấc-âm.
Năm năm Chủ-bút lao tâm, Dựng cờ nơi chốn từ lâm một mình.
Tuy là họa hổ vị thành, Tài bồi giáo hóa đặng danh nhản tiền.
Truyện thơ nay dịch liền liền, An-Khương, Chánh-Sắt roi truyền thêm hay.
Thảm thay Chánh-Chiếu ngày nay, Ra làm Nông-cổ chưa đầy mấy trăng.
Bởi vì biếm nhẻ lằn xằn, Khua ba tấc lưởi họa căng nhương thành.
Đặng-thúc-Liêng người trâm anh, Giúp việc Nhà-nước đã đành có công.
Mang tai chuyện khéo khi không, An-Khương hiện tài cũng đồng như Liêng.
Bi chừ Nông-cổ mối giềng, Lê Trung Quãn-hạt thay quyền Chủ-nhơn.
Nguyễn-chánh-Sắt tỏ nguồn cơn, Làm phó Chủ-bút nhờ ơn thánh-hiền.
Miễu chùa trong hạt các miền, Lể nghi tế tự mối giềng theo xưa.
Cuộc đời trải mấy nắng mưa, Chòm nhơn xóm nghĩa còn lưa bộn bàn.
Tan, Hôn, phép tắc rỏ ràng, Vản lai thù tạc kỉ cang đẹp tình.
Phú-hưng địa cảnh rất xinh, Kêu giồng Đất-đõ hiển linh sẳng dành.
Nhà họ Nguyễn phước đức lành, Nay còn khoẻ mạnh trâm anh bộn bề.
Nguyễn-khắc-Thuận Nguyễn-khắc-Huề, Anh em sung túc vinh huê đành rành.
Thuận làm Cai-tổng Bảo-thành, Huề làm Giáo-thọ hiển danh đương đời.
Tữ tôn lang quế nhiều người, Gốc xưa tích thiện rạng ngời gia-viên.
Chợ Hương-điểm chùa Bà-thiên, Phụ cơ cho thuốc cũng riêng sự kì.
Bà Thiên-hậu đức từ bi, Thương người bịnh hoạn hiển y cứu người.
Bốn phương cúng biết mấy mươi, Lữa hương sum thạnh tiếp mời rất đông.
Bảo-lộc tỗng Tân-thanh-trung, Có nhà họ Nguyển thật dòng nho gia.
Cai-tổng Nguyển-Hay là cha, Tiếng người phẫm hạnh gần xa ngợi đồn.
Lập chợ Tân-thanh-trung thôn, Dấu roi sung túc lưu tồn đến nay.
Người đều kêu chợ Tổng-Hay, Vợ tu nhơn đức chồng say học hành.

Sanh con nam nữ trưởng thành, Hậu đức hiền lành một cập anh em.
Nguyển-trung-Hậu ngoài tên Nghiêm, Nối làm Cai-tỗng khiêm khiêm chỉnh tề.
Nguyển-hữu-Đức ngoài tên Huê, Đương kiêm Phó-tổng phu thê thuận hòa.
Cốc noi chữ nghĩa truyền nhà, Phụ từ tữ hiếu huynh hòa đệ cung.
Tốt thay nhà ở theo giồng, Hết giồng tới ruộng ruộng giồng cao lương.
Ba-tri phong thủy một phương, Phan-công Thanh-Dản cố hương lưu tồn.
Quê ngài ở Bảo-thạnh thôn, Đại khoa Tấn-sĩ tiếng đồn Nam-trung.
Phải trang sư phạm nho tông, Kinh lân sữ mã siêng dùng sữa trau.
Mày xanh đến lúc bạc đầu, Thờ ba trào chúa một câu trung thành.
Biển-cần thuở dợn sóng kình, Tiếc-mao Khâm mạng trấn thành Vỉnh-long.
Kiến cơ biết sẳng nơi lòng, Chủ trương đã định ở trong lẻ trời.
Xiếc bao sầu thảm cuộc đời, Y khôn mở miệng hở lời với ai.
Thị phi phú mặc tiếng ngoài, Ngài cam một giấc dạ đài thì thôi.
Nhịn cơm chịu chết cho rồi, Thung dung tựu nghĩa làm tôi phận toàn.
Phủ-thờ nay ở tại làng, Mộ phần bia chí rỏ ràng tạc ghi.
Đẹp thay Phong-thổ Ba-tri, Tên kêu Chợ-đập nguyên vì cớ đây.
Thuỡ ấy làng An-hòa-tây, Có ông Xã-Hạt dựng gầy thị trung.
Thường thường qui tụ cũng đông, Chợ-ngoài tên đặt kêu dùng đã lâu.
Khéo cho Tạo-hóa cơ cầu, Khiến ra thay đổi biễn dâu cuộc đời.
An-bình-đông xả một nơi, Có cây da lớn nghỉ ngơi bộ hành.
Bán buôn hàng vặc rập rình, Kẻ ngồi người đứng thích tình không đi.
Ông cả Kiểm, thấy chuyện kì, Tới nơi cây ấy lập vi thị truyền.
Chổ nhằm cuộc đất linh thiên, Như ai xuôi giục người riêng tấm lòng.
Càng ngày càng thạnh càng sung, Chợ ngoài thưa nhóm túng cùng nổi sân.
Bốn cây đắp đặp cảng ngăn, Không cho ghe cộ vào băng An-bình.
Gây ra cừu oán đấu tranh, Kiện nhau tới tĩnh sự tình lôi thôi.
Thế thần Ông-Hạt có rồi, Kiễm, bèn toan liệu với đôi ông Làng.
Kinh-đô ta kiếp băng ngàn, Ngự tiền trạng bạch ngai vàng xử phân.
Châu phê đập chẳng khá ngăn, Cho ghe buôn bán dễ dân ra vào.
Phước phần trời đã định trao, Ông Thái-văn-Kiễm phú hào vỉnh vi.
Tục ngữ rằng già Ba-tri, Ấy là minh chĩ vậy thì Thái-ông.
Kiện cho thấy mặt cữu-trùng, Trong trào ngoài quận người đồng ngợi danh.
Ông-Kiễm tánh hay nhơn lành, Vợ thêm hiền đức cưởi canh mẩn cần.
Bày nghề dệt lụa dần dần, Đờn bà con gái tập lần khéo khôn.
Lụa Ba-tri, có tiếng đồn, Bởi Bà-cã dạy lưu tồn đến nay.
Ông bà hòa thuận sum vầy, Ninh hinh roi dấu đặng rày ba trai.
Viết, làm Bát-phẩm-văn-dai, Thạnh, làm Cữu-phẩm là hai đã đành.
Hào, làm Đội-nhứt tĩnh thành, Ông-Hào, Ông-Thạnh, âm minh vội về.
Viết, thi sĩ hạnh chĩnh tề, Nghỉa phương giáo huấn đề huề nhi tôn.
Nuôi cháu dạy đã lớn khôn, Có hai người đặng danh tồn đương kiêm.
Thái-Ngưng nho nhã khiêm khiêm, Tục kêu Bồi-Mển tánh liêm đức hiền.
Sữa nên phong hóa xóm riềng, Tế thần nhằm lễ tự tiên phải nghì.

Ông Thái-hửu-Vỏ dương vi, Vinh thăng Cai-tỗng Ba-tri bây giờ
Bấy năm sữa soạn cỏi bờ, An-bình-đông xã ơn nhờ mở mang.
Ba hàng phố chợ nghiêm trang, Hai hàng cất dọc một hàng ngang qua.
Giữa ngay Hội-quán ngó ra, Từng trên lầu cát coi đà rộng thông.
Rạch Ba-tri, trước cạn cùn, Xin quan đào giáp qua giồng Ba-lai.
Đất nhờ kinh ấy mới khai, Khỏi lo oan phế ruộng hai bên bờ.
Tiện dân đặt lọp thã lờ, Ghe buôn qua lại cũng nhờ làm ăn.
Hợi niên Huyện-Doản vinh thăng, Đỗi qua cai trị nhơn dân Mỏ-cày.
Chánh lành đương hẩy thơm bay, Chưa chi lại đỗi về ngay Sài-gòn
Mỏ-cày người bụng sắc son, Đặt bài ái mộ lời còn chép ghi.
Mấy trăng hoạn lộ bôn trì, Ở tòa Quan-thượng viễn kỳ thần hôn.
Trời cho danh phận vuôn tròn, Hồi hương ý cẫm sông non xứ mình.
Quấc-vương thủy thỗ chạnh tình, Kêu làng Bão-thạnh giảng minh chuyện nầy.
Tưởng niềm nguồn nước cội cây, Việc làm phải nghĩa xưa nay ai dành.
Mã ông Sùng-Đức tiên sanh, Với ông Thanh-Dãn nằm ranh đất làng.
Hai ông sĩ đức song toàn, Đáng trang phối hưởng Thành-hoàng anh linh.
Phụng nghinh Thần-chủ tới đình, Viên quan hương chức kính thành dới trai.
Ba dòng trần thiết cấp dai, Trâu heo lễ tạ an bài phẫm nghi.
Nam-kỳ duy xứ Ba-tri, Văn chương lễ nghỉa gốc vì Phan-công.
Roi truyền chữ hiếu chữ trung, Lớp sau Ông-Viết giữ không đỗi dời.
Ông-Ngưng, Ông-Võ nối đời, Giữ gìn mô phạm rạng ngời gia thinh.
Ngưng đà về chốn âm minh, Vỏ thăng Tri-phủ qua thành Long-xuyên.
Mai-van-Hộ tánh nhơn hiền, Chánh-tổng Bảo-thuận đương quyền kỷ cang.
Các ngôi chùa miễu các làng, Nội trong phần tổng lịch sang chỉnh tề.
Tuy là phong cảnh xứ quê, Lễ nghi nhơn nhượng phủ phê trong ngoài.
Người làm đầu chẳng đơn sai, Vậy nên phong tục hóa lai mỉ thuần.
Việc quan giữ nết mẫn cần, Vinh thăng nhứt hạng có phần nghiễm tôn.
Xưa ông Huyện Sĩ tiếng đồn, Chiêu hiền đải sỉ khéo khôn ai bì.
Phong lưu nho nhã nhơn nghì, Nơi Hoằng-trị phủ người thì biết danh.
Ngài đà tách cỏi diêm đình, Tiếng còn roi dấu Châu-thành Bến-tre.
Ngày nay hai cháu chỉnh tề, Có Nguyễn-công-Cẩn phu thê sang giàu.
Tiếng tâm chữ nghĩa lẹ mau, Đứng tòa Biện-lý đã lâu công trình.
Nhớ xưa trung hậu chí tình, Tại tỗng Bão-trị tiếng minh hai thôn.
An-hòa-tây, Tân-hòa thôn, Nhơn dân háo nghĩa danh đồn Nam-trung.
Hai làng người thảy có lòng. Sắm ghe chở gạo nguyện tùng quan quân.
Cao-hoàng sắc nhị thôn dân, Kêu binh Vỏ-cự vệ phân nhứt nhì.
Ngọn rau tất đất trọn nghì, Đương cơn biến loạn truy tùy thánh-vương.

Mỷ-Tho 卽古定祥

Mỷ-tho phong cảnh thi:

Phong cảnh vui xem hạt Định-tường,
Tàu xe đông đảo mối đầu đường.
Cồn-rồng đất nổi che tiền diện,
Cổ-lịch đồn xây trấn viển phương.
Phú nử hào nam nơi tổng lý,
Cử nhơn tấn sỉ chốn khoa trường.
Thuần lương tập tục dân no đủ,
Hóa hóa sanh sanh lợi ruộng vườn.

Mỷ-tho nguyên tỉnh Định-tường, Phía tiền một dảy phố phường quá đông.
Trên bờ hàng hóa thạnh sung, Dưới sông ghe đậu chật cùng ngoài trong.
Sông con giáp nước Sân-trông, Truy nguyên thuở trước bởi ông Vân-hầu.
Đào thông theo giặc cho mau, Quân Mên thất thế hàng cầu nhiêu sanh.
Một đầu giáp lại Bến-tranh, Một đầu giáp lại thấu ranh Vủng-gù.
Song mà hồi ấy chỉnh tu, Để lo phòng bị tuần du tặc thuyền.
Hẩy còn chật hẹp chưa liền, Gia-long nhứt thập bát niên thêm đào.
Từ sau thuận tiện ra vào, Ghe buôn tự thích chở trao dể giàng.
Chạy dài theo mé đại giang, Phía trên giáp với An-giang Vàm-hàng.
Cù-lao trước mặt án ngang, Chữ kêu Long-đảo rở ràng trời sanh.
Khen ai cũng khéo đặt danh, Khi xưa mới nổi như hình ngọa long.
Lưu truyền tiếng gọi Cồn-rồng, Để làm bình tế ngoài vòng Mỷ-tho.
Qua sông Rạch-miễu có đò, Một ngày hai buổi ra vô hoài hoài.
Cồn-rồng nay cất lầu đài, Một tòa cao thấp trong ngoài làm nhơn.
Để nuôi tàng tậc bịnh nhơn, Không cho chung chạ sợ cơn nhiểm truyền.
Nên làm ra một cỏi riêng, Năm thìn trận bảo ngửa nghiêng tanh bành.
Ơn nhờ Thượng-đế háo sanh, Mười phần hao một chẳng đành tang hoan.
Rộng dài bề dọc bề ngang, Mười lăm phần tổng khắp ngàn điền viên.
Thổ nghi vườn ruộng tương liên, Bông hoa quả phẩm thường xuyên thiếu gì.
Cá tôm sò ốc đâu bì, Cũa nơi sông biển lắm khi dư dùng.
Tốt tươi bắp đậu các giồng, Khoai lang Trấn-định người trồng vạn thiên.
Cải rau bông thuốc khắp miền, Đồ làm trong rẩy xóm riềng nhặc sai.
Bí thời tiếng bí Ba-lai, Mía thời Gò-các ai ai đẹp tình.
Hòa-quới với tổng Hòa-thinh, Dừa khô thổ sảng có danh Nam-kỳ.
Cây dừa chẳng bỏ món chi, Niên niên thạnh lợi nhiều khi dân nhờ.
Trời sanh vật giữa cỏi bờ, Ở đâu đã sẳng tư cơ cho người.
Cái-váng kễ biết mấy mươi, An-hồ Tân-thạch khô tươi dập dồn.

Tư bề Thừa-đức nội thôn, Đất trồng dưa-hấu ngọt ngon quá chừng.
Vật hèn cây lát cây đưng, Cũng là giúp đở nhơn dân lợi dùng.
Thẳng theo bờ ruộng các đồng, Chưng-bầu làm cuổi sẳng trồng nơi nơi.
Cây bần tạp dụng để chơi, Cù-lao mé nước mổi nơi kẹo lền.
Chữ kêu Thủy-liểu tốt tên, Ghe hay hứng mát dựa bên gần bờ.
Trang nghiêm một sở nhà thờ, Lầu cao vọi vọi đến giờ chuông rung.
Người trong đạo Chúa thạnh sung, Đến tuần xem lể khiêm cung kỉ càng.
Nhà-thương Nhà-phước bĩ bàn, Phân ra đâu đó lớp lang ê hề.
Bên phang bên niếc chĩnh tề, Các dinh các sở tư bề phân minh.
Điều-hòa Mỷ-chánh thần đình, Qui mô tráng lệ công trình biết nhiêu.
Châu-thành chợ nhóm dập dều, Xe người xe ngựa thảy đều có đưa.
Buổi mơi buổi tối buổi trưa, Tàu-đò xe-lữa rước đưa liền liền.
Đầu đường sáu tỉnh mối giềng, Tiệm ăn tiệm ngủ khỏe yên bộ hành.
Thiệt là đông đạo hữu danh, Tứ phương lai vản dinh sanh điệp trùng.
Người xưa chữ nghĩa mẩn thông, Kinh-Hương, Hạp-Trí hai ông thanh nhàn.
Đều là thuở cựu làm quan, Qua đời tân cũng yêu sang hai ngài.
Hương, làm Quản-hạt lâu dài, Trí, làm Phủ-sứ ra ngoài Thừa-thiên.
Đã lâu về chốn cữu tuyền, Tiếc thương danh giá lòng phiền cám trông.
Học trường chổ rất rộng trông, cũng là trường lớn ở trong Nam-kỳ.
Công phu ăn học cập kỳ, Có khi du tức có thì tàng tu.
Ông Cô-Tên (Cotel), tánh cần cù, Bề trên cai-quản mấy thu trường nầy.
Trong ba món chữ đều hay, Mình làm sư phạm nặng dày công lao.
Tác thành sỉ tữ biết bao, Gắn đua hậu tấn thấp cao bôn trì.
Nước nhà khen ngợi yêu vì, Phải trang sơn đẩu oai nghi làm thầy.
Nữ trường thiết lập mới đây, Dạy vừa thêu tiểu vá may đủ nghề.
Tập binh trại cất chĩnh tề, Chổ xưa thành củ nay nghè bình trang.
Mỷ-tho cũng xứ Trường-an, Phong lưu sỉ nữ lịch sang trong đời.
Hềm vì đường sá hẹp hòi, Xe đi hứng mát chiều trời không nơi.
Hoặc khi lể lớn ăn chơi, Đủ phường dinh dãy đủ nơi quê mùa.
Các làng đều có ghe đua, Điều-hòa Mỷ-chánh ăn thua nhứt nhì.
Hai làng roi dấu lể nghi, Lắm người thuở cựu học thi bộn bàn.
Nhiêu-Ninh, Học-Lạc, Nhiêu-Phang, Nho y cầm tữu phải trang học trò.
Lạc, Ninh, thôi đã rủi ro, Còn Phang, ở lại dũi co theo đời.
Dặm tình nhớ trước vơi vơi, Khi khuyên chén rượu khi mời câu thi.
Thầy-Tuấn, cũng tay lương y, Thuốc noi vương đạo Hiên, Kỳ, truyền tôn.
Trụ trì ông Pháp-sư Tồn, Tu hành có phận khéo khôn nhiều tiền.
Gặp thời thêm lại gặp duyên, Thiện nam tín nử người siêng phục tùng.
Bến-tranh, Cai-lộc, Sân-trông, Cổ-chi, Trấn-định, đất sung người hào.
Cao-hoàng-đế, thuở ra vào, Đương khi kình ngạt ba đào phiến dương.
Nhờ dân Tam-phụ thạnh cường, Phá Tây-sơn tặc chiến trường lập công.
Đông-sơn nghĩa lữ xưng hùng, Ngài đi chiêu mộ về dùng trảo nha.
Chổ à mủi giặc vô ra, Thói dân địch khái trẻ già thẳng ngay.

Tập quen roi đến đời nay, Huân, Lân, khởi nghĩa người say tấm lòng.
Cả thảy nghe theo rùng rùng, Dẩu ra khổ não khốn cùng cũng ưng.
Bất hàng cam đoạn Tướng-quân, Ông Huân thủ bút khi vưng chịu hình.

翁勲手筆詩云 
汗馬間開為國仇祗因兵罷致身休 
英雄莫把贏輸論宇宙長看節義留 
無怖已驚強敵魄不降甘断將軍頭 
當年萩水波流血龍島秋風起暮愁 
紳士同步韻 
興戈孰與子同仇空使英雄事㭟休 
義氣心為君國計敗成名共海山留 
孤忠直射龍門上一死應標虎榜頭 
萩水天晴猶𫇰景風波起處動餘愁 

Cho hay quí tiện nhục vinh, Đều chôn xuống đất mà danh khác nhiều.
Bại thành cũng tiếng tạc biêu, Bấy lâu nghe đã quạnh hiu cang tràng.
Dân cư rẫy ruộng an nhàn, Miễu chùa lể nghĩa tục làng lịch xinh.
Bà-tám-Thơm, rất hiền lành, Tại làng Lương-phú Bến-tranh quê nhà.
Lưu truyền phước đức thành gia, Nay còn cháu chắc trẻ già đều nên.
Tứ bàn xóm dưới xóm trên, Những người danh giá đôi bên còn nhiều.
Chữ nho gốc hẩy chuộng yêu, Dẩu nghèo không bỏ mỷ miều thi thơ.
Có chùa Sắc-tứ cựu cơ, Nơi thôn Thạnh-phú bây giờ đương sung.
Long-hưng Cả-Lựu vợ chồng, Hơn ba ngàn bạc của dùng bố thi.
Cúng thêm ông Phật từ bi, Đúc ngoài Hà-nội tứ vi thết vàng.
Rước về công khó gian nan, Trí nơi chùa ấy ngồi bàn chánh trung.
Hẩy còn nhiều kẻ có lòng, Thiện nam tín nữ của chung kỉnh thành.
Trùng tu nay đã lạc thành, Từ rày Sắc-tứ hiển vinh cữu trường.
Kim-sơn một chỗ thôn hương, Lắm nhà hảo hộ đống lương roi còn.

Phong lưu cốt cách chưa mòn, Tinh anh tú khí sông non tạo thành.
Có ông Cả-Dám hiển linh, Chư thôn bàn cận húy danh hết lòng.
Ngày nay Phạm Nguyễn hai dòng, Ở trong làng ấy thạnh đông cữa nhà.
Phạm thì ở ấp Mỷ-hòa, Đời đời lương thiện tên là Tổng-Diêu.
Sanh ra Phó-Túy mỹ miều, Làm tôi giúp nước công nhiều bền dai.
Nguyễn thì ở ấp phía ngoài, Là ông Cựu-Trí lâu dài hưng long.
Em là Nhiêu-Chấc Nhiêu-Phong, Ba nhà con cháu hiệp sung nhãn tiền.
Nhiêu-Phong phước đặng con hiền, Là Cai-tổng-Hiến dạ chuyên thanh cần.
Ông Lê-văn-Duyệt song thân, Mã chôn nguyên ở Long-hưng chánh làng.
Vuôn tre yêm ái tứ bàn, Trong xây vôi đá trước hàng mộ bi.
Trải bao vật oán tinh di, Tục kêu Lăng-cố tri tri chẳng mòn.
Sanh con đích đáng ông con, Miễu lăng Gia-định tích còn tạc biêu.
Mấy người cháu, tệ quá đều, Tự điền hương hỏa lợi nhiều ngàn trăm.
Ăn chơi oan đãng cố cầm, Đến ngày kị lạp vô tâm kỉnh thành.
Vậy nên sự nghiệp tang tành, Từ rày hương chức bao đành lấp ngơ.
Tu bồi Lăng-cố mộ cơ, Ta làm phải nghĩa cỏi bờ chứng tri.
Mỷ-tho nhà tốt thiếu chi, Nhà Ngô-ngọc-Lựu cất thì mới đây.
Vững bền nền đúc cao xây, Gỗ đều danh mộc thêm cây trắc toàn.
Xa cừ ốc cẩn rở ràng, Bao lam mấy bộ khéo càng không sai.
Tốn hao năm vạn đồng ngoài, Lưu truyền nghiệp cả lâu dài nước non.
Ngô-ngọc-Quan, ấy là con, Nay làm Cai-tổng tuỗi còn thanh xuân.
Việc công giữ nết liêm cần, Nội Thuận-bình tổng xa gần ngợi xưng.
Thảo ngay không mất bỗn căng, Chắc-là chĩ nhựt cao thăng có ngày.
Ông Ba-Thận, tánh rất hay, Chí vui y đạo làm thầy có danh.
Gặp hồi phong tục cãi canh, Thú vui ẫn dật nhàn thanh ruộng vườn.
Sùng nho trọng đạo thường thường, Hiếu trung hai chữ chủ trương gia đình.
Con là Ba-Thảo hậu sanh, Cầm thi são biết lịch thanh đủ dùng.
Đẹp thay làng Vĩnh-kiêm-đông, Truy nguyên tích củ văn phong thiệt nhiều.
Miểu chùa chợ búa mỷ miều, Người hay học đạo mơi chiều thung dung.
Bởi xưa Tấn-sỉ một ông, Tên Phang-hiển-Đạo ngụ trong làng nầy.
Công phu đèn sách nặng dày, Làm Đốc-học-chánh dạy nay Định-tường.
Tác thành sỉ tữ khoa trường, Phải trang mô phạm văn chương lưu tồn.
Chánh làng ở Dưởng-điềm-thôn, Học trò đều thảy kính tôn bậc hiền.
Trước nhà dán một câu liên, Mượn sơn thủy cảnh bút nghiêng đặt bày.

涔 江 波 靜 墨 池 香
龍 島 雲 晴 文 筆 峙

Gặp hồi binh cách chẳng may, Suối vàng cam phận tỉnh say mặc đời.
Giạ đài luống chịu nín hơi, Xét soi phú có gương trời là ơn.
Khá khen bà Thủ-bảng-Hơn, Nói luôn cho biết nguồn cơn sự bà.

Một niềm cần kiệm sanh nha, Nữ công nữ hạnh ai mà sánh đương.
Dầu khi tị nạn viển phương, Cũng là siêng nhọc lo lường làm ăn.
Quả cư giữ vẹn lòng hằng, Mấy năm tạo lập ví bằng giàu to.
Một mình gầy dựng cơ đồ, Chia cho mấy cháu qui mô sẳng sàng.
Tám mươi bốn tuỗi giấc an, Thật là phú thọ ít trang như bà.
Cây cao tàng lớn diềm dà, Sau nhờ ấm mát cả nhà hiển vinh.
Ông Cả-Trị, làng Nhị-bình, Tuổi đà bảy chục tánh tình hào thay.
Sữa mình cứ lẻ thẳng ngay, Người trong làng xã càng hay phục thành.
Các thôn bản cận xanh quanh, Chuyện chi trắc trở đem dành xữ phân.
Gặp đời ly loan phân vân, Bảo toàn hương lý nhơn dân yêm liềm.
Trần-thinh-Dự, làng Dưởng-điềm, Sảo thông nho học tánh khiêm cung thường.
Ở nhà lập một tư trường, Dạy nên con trẻ văn chương khiển hoài.
Trên Rau-răm, dưới Ba-rài, Cù-lao Ngủ-hiệp đất dài rộng thay.
Chợ ông Cả-Công ngày nay, Nhóm thường sung túc đông dầy người ta
Nguyên xưa một chổ rừng dà, Huỳnh-văn-Công chiếm lập ra thị-triền.
Dần dần qui tụ đông liền, Phần ăn Cẩm-địa tiền hiền còn lưa.
Lịch thay phong thổ Ba-dừa, Vườn cây hai phía nhặc thưa cả ngàn.
Cau tầm-vun, với trầu rang, Bông hoa lợi lộc dể dàng dinh sanh.
Mỷ-đông-trung tục rất xinh, Huỳnh-văn-Trung trước học sanh Định-tường.
Đương cơn binh hỏa nhiểu nhương, Không quên thủy thổ Quấc-vương cang thường.
Lập ra tư thục một trường, Tạo thành môn đệ thôn hương tứ bàn.
Mình cam ẫn dật thanh nhàn, Dựng nền thánh miểu nghiêm trang kĩnh thành.
Nay đà về chốn âm minh, Con là Kĩnh-thứ gia đình thi thơ.
Ruỗi cho tuỗi tác không chờ, Mới vừa tữ biệt ngẫn ngơ sự nhà.
Hẫy còn con cháu thuận hòa, Dấu roi danh giáo chắc là nối sau.
Trãi xem phong cãnh Ba-dầu, Đất nhờ huê lợi cau trầu tư niên.
Mé sông dân ở liền liền, Xanh quanh nội chợ xóm riềng quạnh hiêu.
Bán buôn chẳng đặng bao nhiêu, Làm ăn chắc chắn cứ theo ruộng vườn.
Nguyễn-thị-Liệu, trinh nữ phường, Nguyên xưa nàng ấy bị cường hãm dâm.
Khi đó tuỗi chừng mười lăm, Mình không chịu nhục mạng lầm tay gian.
Vua ban cho tấm biển vàng, Lập phường trinh nữ tại làng Mỷ-đông.
Tiếc danh chói rạng non sông, Những người hương phấn ai không yêu vì.
Miên kinh ngoạt cữu lắm khi, Ngói vôi xui ngã còn chi nữ phường.
Thiện nam tín nữ bỗn hương, Y theo sữa lại tỏ tường như xưa.
Tấm biển cũ hãy còn lưa, Đổi làm tấm mới cũng vừa mỹ quan.
Thường niên cúng cấp cổ bàn, Câu liên trước cữa ngai vàng biểu sinh.

聖 德 褒 旌 用 示 節 烈 者 勸
女 貞 自 守 無 為 強 暴 所 污

Thanh-sơn thôn, cãnh rất xinh, Là chợ Cây-lậy có dinh phủ đường.
Nghiêm trang điển xá học trường, Cữa nhà đông đảo phố phường trước sau.
Sông Cái-bè, rạch rộng sâu, Có quan Tỗng-đốc nhà lầu tôn nghiêm.
Một tòa cao vọi lặng yêm, Phía sau gia mộ cuộc thêm diềm dà.
Gốc xưa thi lể truyền nhà, Gặp cơn ly loạn mình ra dẹp nàn.
Xuất thân từ lính đến quan, Bốn mươi năm chẳng trên an nhọc nhằn.
Tên là Bá-Lộc họ Trần, Tướng hùm nỗi gió oai thần nép ma.
Nhứt sanh tin tưởng Chúa-Bà, Thường đeo tượng ảnh để mà trấn thân.
Khi nào hỗn chiến giáp gần, Đạn tên giặc bắn rần rần bên tai.
Như ai che đở mình ngài, Dư trong mấy trận không hoài vít đau.
Bắn voi lớp trước lớp sau, Hai mươi tám thất chẳng sầu chẳng nao.
Mình không thương tích tổn hao, Thiệt là bổn mạng gởi trao cho Bà.
Làm nhà thờ Đức-chúa-Bà, Phí tiêu ước đến của nhà tiền muôn.
Giữ gìn đạo Chúa luôn luôn, Tấm lòng sánh với tiếng chuông chẳng rời.
Mẹ cha như đất như trời, Ngài hay hiếu dưởng đời đời không sai.
Pháp-triều thạnh trị lâu dài, Lạc-hoa sang trọng thưởng tài nguơn công.
Vua Đồng-Khánh, có tặng phong, Kim tinh bội khánh thanh hồng sô xa.
Hiếu tâm dủ nhựt dủ gia, Bất suy thê tử thuận hòa đệ huynh.
Bảo an nội hạt thái bình, Nam-kỳ lục tỉnh một mình không hai.
Sanh ra trai phải con trai, Tử thừa phụ nghiệp lâu dài hiển vang.
Ông Trần-bá-Thọ vững vàng, Mở khoa ngôn ngử lại càng có danh.
Kể ra những sự đào kinh, Gốc xưa Thập-tháp nghĩa binh tụ tàng.
Giao hòa thuở mới vừa an, Vỏ-di-Dương lén dọc ngang biên thùy.
Kheo khư chổ rất dị kỳ, Tư bề bưng trấp giữa thì tháp xây.
Ông-Dương vỏ nghệ cao tay, Chiêu qui binh chúng chiếm ngay xưng hùng.
Mịt mù bốn phía minh mông, Tấn công thối thủ đất không thế thần.
Hiếu trung lòng dốc chuyên cần, Nghịch trời đem sức quét trần đặng đâu.
Thoát thân về với ghe bầu, Khỏi nơi Cần-hải Tiền-xu đón thoàn.
Giấc nồng đêm dậy nhảy khan, Hồn chôn bụng cá ưng oan chẳng cầu.
Miển tròn danh giá về sau, Ức dương nghị luận mặc âu thế tình.
Tháp-mười địa cuộc minh minh, Muôn trùng nước cỏ thinh thinh dập dồn.
Ước chừng một huyện xả thôn, Cọp voi heo rắn khỉ chồn ở bao.
Ông Trần-bá-Lộc xin đào, Kinh thông nước chảy dể vào dể ra.
Quan nghi sức mọn người ta, Đào sao cho thấu hằng sa Tháp-mười.
E khi uổng phí công người, Cả trong thiên-hạ chê cười tốn hao.
Nhiều lần xin, mới cho đào, Ba năm đất mở biết bao hoan nhàn.
Giải dầu trải mấy gian nan, Nên ra một chổ muôn ngàn điền gia.
Nay đà lợi ích nước nhà, Công xâu dân chúng công đà đáng công.
Tốt thay Thập-tháp một đồng, Đông tây nam bắc nay thông bốn bề.
Tân-an Sa-đéc giáp kề, Các mối kinh đã dân về vạn thiên.
Trời cho một chổ bạc tiền, Bởi người có khó có siêng mới thành.
Nông là gốc của dân sanh, Làm ra đặng lợi đặng danh đời đời.

Đập đìa bưng xẻo khắp nơi, Cậy nhờ lúa cá thảnh thơi an nhàn.
Pháp triều đồ sộ giang san, Ơn quan Tổng-đốc nhẩy tràng chung riêng.
Nguyên khi thiết lập Đồn-điền, Hẩy còn nền chợ ở miền Xoài-tư.
Toan khai Thập-tháp câu cừ, Đặng thông các ngã dân cư nẻo đường.
Đại thần ông Nguyển-tri-Phương, Một tay chuyên chế phong cương chuẩn thằng.
Thứt khuya dậy sớm nhọc nhằn, Ưu dân ái quấc lòng hằng thảo ngay.
Sắm đào chưa kịp đến nay, Ông Trần-bá-Lộc sau bày thành công.
Hềm vì công đã thành công, Giáp-thìn bão ngập lúa không hột nào.
Tị-niên lại bị cào cào, Phần thêm chuộc cắn làm sao cho bình.
Hà-dương thần miểu một mình, Trên vàm Trà-lọt nước quanh vận đào.
Tàu ghe lên xuống ra vào Xứ kêu Vòng-mẫn ba đào hãi kinh.
Nhiều người không tỏ hiệu danh, Gọi là Dinh-cậu anh linh tiếng đồn.
Vàm Trà-lọt Hòa-khánh thôn, Có ngôi thạch mộ vĩnh tồn non sông.
Người đều kêu mã Lê-Ông, Nguyên là Nội-tỗ Tướng-công Bình-hòa.
Gốc khi dịch khí thạnh đa, Lê-Ông ngẩu cảm vội đà quyên sanh.
Giặc trời lúc ấy hoành hành, Chết chôn sơ tạm ai dành ruỗi may.
Đến vàm ông ấy đứt dây, Người bèn đào lỗ lấp ngay giữa chừng.
Vợ con không sở ăn mần, Đem nhau về ở Long-hưng Thuận-bình.
Rạch Ông-Hỗ ấy là danh, Mấy năm cư trụ kinh dinh ruộng đồng.
Sanh đặng ông Lê-tướng-công, Miểu lăng Gia-định thạnh sùng lữa hương.
Lê-Ông mộ chí ghi tường, Tại nơi Hòa-khánh thôn hương rỏ ràng.
Viên quan chức sắc nội làng Nhiều tay lể nghĩa nhiều trang học hành.
Tai ngơmặt lấp bao đành, Thường niên tế tảo dai thành Lê-Ông.
Đổi dời trải mấy thu đông, Mà người trung hậu một lòng tương đôn.
Lịch thay Hòa-khánh nhứt thôn, Dân phong thuần mỷ lược tồn sữ kinh.
Hương-quan-Đức, Nguyễn-ngọc-Huỳnh, Tú-Sỉ Nhiêu-Thới với anh Học-Điềm.
Đều là tánh hạnh khiêm khiêm, Thú vui đờn rượu ngày tìm dưởng dung.
Định-tường hạt ở chánh trung, Sông sâu nước chảy người sung lịch đời.
Văn phong thuở cựu rạng ngời, Một ông Tấn-sĩ hai người Thủ-khoa.
Ăn chơi tục lắm xa hoa, Cầm kỳ thi tữu vịnh ca tiếu đàm.
Tục hay tin chuyện bá xàm, Mấy thầy Tướng-ứng nói thàm nói vơ.
Tục hay thù vặc thừa cơ, Phao thuốc phao súng rơi thơ rơi tờ.
Thận, Long, năm trước đề cờ, Hiệp cùng Đức, Rộng, phĩnh phờ dậy binh.
Xuống lên Mỷ-quí Tân-thành, Điềm-hi, Hữu-đạo, xanh quanh các làng.
Giặc sao gươm giáo nghinh ngang, Súng ống không có ó vang cùng đường.
Điên cuồng gẩm cũng khá thương, Bốn người thảy mắc chiến trường tróc câu.
Dẫn ra Cây-lậy chém đầu, Bốn người đều chém trước sau một lần.
Sau thêm Ong, Khã, lẫy lừng, Roi mây ngựa chuối giăng giăng khởi cùng.
Dối rằng phép lạ năm Ông, Bùa linh hiển hích súng không làm gì.
Dân làng chẳng hiểu sự chi, Ngở là diệu pháp vậy thì rùng theo.
Ruổi ro Ong, Khả, vận nghèo, Bắt đều chém tại Thuộc-nhiêu Cựu đồn.
Người đời đâu thiếu trí khôn, Bởi nghe quấy quá hóa phồn dại ngu.

Sau thêm du sỉ Trần-Tu, Bày làm chuyện mị hoặc vu dị kỳ
Dã làm lời dụ Hàm-nghi, Người ta tưởng thiệt nhơn nghì tin theo.
Kế gian lấy của đặng nhiều, Tàng ẩn mơi chiều ở Vỉnh-kim-đông.
Ai dè thiên đạo chí công, Những trang hiểm ác chắc không sống đời.
Tuần do thám bắt tức thời, Côn-nôn phát phối khỏi vời chết ngay.
Tiếc người ăn học rất hay, Nho y sự nghiệp phải thầy có danh.
Làm chi những sự trớ trinh, Kiến tài ám nhản nở khinh thân mình.
Rỏ ràng chuyện mới đành rành, Khuyên người mựa chớ tánh tình mê say.
Bàu-cột-bườm tiếng lạ thay, Ở Thạnh-quan-tỗng làng rày Thanh-xuân.
Mùa mưa linh láng như bưng, Ngoài cao trong thấp bụi rừng rậm ri.
Ao-xương-rồng đặt tên kỳ, Tại Bình-vương-xã rộng thì minh mông.
Kinh Bà-bèo, phía trong đồng, Có chùa Phật-mọc Mục-đồng hay chơi.
Nguyên xưa am nhỏ lâu đời, Thờ ông Phật-đá tơi bời thuở nay.
Coi ra ông Phật bốn tay, Mặt mày hiền hậu tốt thay tượng hình.
Ông Bảo-hộ-Thoại, qua kinh, Bà cảm thời chứng thình lình phát đau.
Ông-Thoại xót xa ưu sầu, Trên bờ mách miệng phật cầu hiển linh.
Vái vang lập tức bịnh lành, Ngày sau tu chĩnh mới thành chùa to.
Ở làng Mỷ-hạnh giữa gò, Ra vô những trẻ chăn bò chăn trâu.
Thường khi trộm cướp đâu đâu, Đem đồ tan vật tới âu ở nhờ.
Dầu ai mạch chĩ tình cờ, Tư bề trống trải cỏi bờ quạnh không.
Dòm coi biết ý thẳng xông, Trốn qua chổ khác ai hòng bắt ta.
Hương-chánh-Quế, cất cái nhà, Tại Cái-thia xứ nay đà mấy niên.
Nuôi tên thợ Cữu thường xuyên, Ham ưa chạm khéo tốn tiền biết nhiêu.
Trời sanh tánh cũng khác nhiều, Khôn lanh kiểu vở tạc biêu để đời.
Định-tường danh tiếng ăn chơi, Ruộng vườn phì mỷ rạng ngời thủy sơn.
Chợ thời chợ Mỷ đông hơn, Chợ-bưng, Rạch-miểu, đơn đơn theo làng.
Ông-văn, Gò-cát, Cái-ngang. Nhựt-tân, Cai-lộc, theo đàng Sân-trông.
Bến-tranh, Cây-lậy, Cả-công, Cổ-chi, Trấn-định, cũng đông bạn hàng.
Tài-yến, Chợ-gạo, Cầu-ngang, Cái-thia, Cái-nứa, xuống sang Cái-bè.
Thuộc-nhiêu, Chợ-giữa, tư bề, Phố phường đông đảo chĩnh tề bán buôn.
Cái-lá, Chợ-mới, quá buồn, Ngã-tư chợ ấy đường luôn Ba-dầu.
Ba-dừa xứ tốt cau trầu, Rạch-gầm, Xoài-mút, có cầu ngang sông.
Nhị-bình, chợ quê ở đồng, Đôi ba mươi nhóm không không bữa nào.
Chợ-kinh chợ nhóm tầm phào, Người ta tuy ít ra vào đẹp xinh.

Vỉnh-Long

Vỉnh-Long Phong cảnh thi:

Vỉnh-long địa cảnh rộng thinh thinh,
Thuở cựu trào ta chốn tỉnh thành.
Miễu-thánh ngày nay còn hiện tại,
Quốc-công thờ trước dấu anh linh.
Mười ba tổng, tục đều trung hậu,
Trăm mấy thôn, người biết học hành.
Thế cuộc hiệp tan tan lại hiệp,
Mau như mây nỗi giữa trời xanh.

Vỉnh-long địa cảnh lịch xinh, Nguyên xưa thiết lập Vỉnh-thanh trấn thành.
Sau cãi Vỉnh-long tỉnh thành, Đất nhiều vườn ruộng xanh quanh lao cồn.
Mười ba tổng, hơn trăm thôn, Y quan lể nhạc lưu tồn cổ phong.
Châu thành phố xá ở đông Dinh sanh đắt ý mé sông một hàng.
Các tòa lầu cát nghiêm trang, Hai bên phang niếc vẻn vang hơn nhiều.
Học trường tinh khiếc mỷ miều, Trường nam trường nữ thảy đều dạy siêng.
Ngặc vì sông cái phía tiền, Ghe phen cẩn đá lở liền khôn ngăn.
Xoi đào mũi nước chảy băng, Lâu nay bồi đấp tốn hằng của muôn.
Đường xe dạo cũng giãi buồn, Vòng lớn vòng nhỏ luôn luôn quanh dài.
Hai bên trồng những nam mai, Thường khi song mã vãng lai giãi phiền.
Cả ngàn phong cảnh điền viên, So cùng Bà-chiểu cũng miền lịch thanh.
Các thôn bàn cận châu thành, Đua ghe ăn dãi có danh khen thường.
Nhà thờ nhà phước nhà thương, Ngàn phòng điển xá binh thương thị triền.
Tàu đò sớm tối ghé liền, Bộ hành lên xuống bạc tiền quá đông.
Tàu tuần đi khắp ngoài trong, Bắc quân gian tế lước xông ra vào.
Bất kỳ sai tới hạt nào, Dẫu cơn phong vỏ ba đào cũng đi.
Măm trầu rực rở oai nghi, Tợ đèn tợ giẻ đủ thì điểm trang.
Sắm ra nội vụ sẵng sàng, Để khi cho mướn các làng hôn nhơn.
Nhứt đồ Hương-Dưỡng tốt hơn, Nhì đồ Tổng-Đạt chạm sơn khéo đều.
Các nơi đồ ấy cũng nhiều, Vỉnh-long kiểu cách mỷ miều bực trên,
Rạch Đất-méo, khéo đặt tên, Trong Văn-thánh miễu hai bên ruộng đồng.
Nguyên xưa xóm ấy chưa đông, Có ông Đức-Méo ở trong rạch nầy.
Ngày sau khai phá sum vầy, Người kêu Đất-méo đến rày thành danh.
Nhớ khi trấn Vỉnh-long thành, Phan-công Thanh-Dảng trung thành liêm minh
Rỏ ràng nhứt lộ phước tinh, Phương dân đều cảm đức lành no say.
Gặp hồi thế cuộc chẳng may, Mối giềng sáu tỉnh hai tay điều đình.
Nở rằng mải quốc cầu vinh, Cửu trùng cao thẳm bao đành lấp ngơ.

Mấy ai thời vụ kiển cơ, Minh sinh lời trối lảo thơ sanh đề.
Hư nên đã liệu một bề, Thung dung tựu nghĩa hồn về non sông.
Phải trang phẩm trọng nho tông, Trời soi ngay thảo tấm lòng chứng tri.
Quấc ân nhứt thủ di thi, Muộn sầu chẳng xiếc thảm bi không ngằn.

潘公遺詩 
𡽫渃散情係𪽝兜𢢯𢢯𩄲𤽸𡎝梅州 
𠀧朝功幹堆行疏𦒹省綱常沒梗收 
站北㝵除信蝶問城南𣈔𬋫㗂鵑愁 
銘旌𠃩字𢚸𡥵鑿𡗶坦辞𣈙黙?秋 
秀才阮庭沼哭潘公詩 
歷仕三朝獨潔身微公誰賛一方民 
龍湖枉負書生老鳳閣空為學士臣 
秉節頻劳生富弼尽忠何恨死張巡 
有天六省存亡事难得従容就義神 

Vỉnh-long chùa miễu giăng giăng, Làng Long-hồ có miễu văn một nền.
Nguyên xưa dấu để vững bền, Sao dời vật đổi xuống lên vận đời.
Bởi vì son sắc rạng ngời, Háo thi lạc thiện lòng người không phai.
Phan công gầy dựng lưu lai, Sau ông Hộ-Nọn bồi tài kinh dinh.
Nay nhờ nhà nước hậu tình, Cho ngàn đồng bạc trợ thành mỷ quan.
Lại thêm có cô Năm-Lang, Là con Ông-hộ giàu sang phải nghì.
Tử thừa phụ nghiệp vỉnh vi, Thương cha mẹ đã tảo qui Diêm-đình.
Cúng vào sở ruộng của mình, Giá hai ngàn bạc phát lành tự tâm.
Thêm ngoài bạc hiện hai trăm, Giao cho Văn-miễu muôn năm lâu dài.
Bình-long Thầy-phó mười hai, Tên Tống-hửu-Định ít ai sánh tày.
Làm đàu Văn-hội ngày nay, Trùng tu miễu vỏ chỉ bày rất công.
Sửa sang thứ lớp ngoài trong, Nay đà nghiêm chỉnh Điện-cung hậu tiền.
Ơn nhờ tứ hải lạc quyên, Kẻ nhiều người ít bạc tiền phủ phê.
Xuân thu Đinh-tế thường lề, Nghi văn phẩm tiết tư bề phân minh.

Coi bài thơ phía sau:

隆城歸大法聖址属於官幸逢張富戶出 
貨續地還四旁諸善信重修亦偉覌誰料于 
中葉殿宇忽頽荒宋靜齋副總欣然為啟 
端六省紳豪集捐全不吝慳旣荷人情好 
又承國厚頒宮墻誇富美爼豆永嚴莊大 
成䀡闕里餘靈仰杏𡊨潘公應含笑張老 
更開顔香火垂千載江山久遠看 
右五言古調詩後學阮蓮𡶶拜題 

Phan-Công tùng tự miễu đình, Tới khi kị nhựt sắm sanh lể bày.
Mồng năm tháng bảy chánh ngày, Đồng nhơn văn-hội cúng rày không sai.
Phụ thêm Ông-hộ là hai, Nhớ ơn lớp trước tiền khai hậu bồi.
Hương đèn trà rượu heo xôi, Cổ bàn trần thiết các ngôi rạng lòa.
Mát yêm cây trái cỏ hoa, Nhơn cơ nghĩa chĩ một tòa nghiễm tôn.
Hương chức nội Long-hồ thôn, Đều là vào hội Thánh-môn miên trường.
Nguyễn-Đức mới thăng phủ đường, Cũng người bằng hữu trong trường nho văn.
Thiên-đường hồn đã siêu thăng, Dấu roi nết tốt bạn hằng cảm trông.
Tống-hữu-Định người có lòng, Rước đem linh cữu chôn trong Thánh-từ.

Ít nhiều chung đậu của tư, Lo bề tống táng chĩ ư tâm đồng.
Phò Nguyễn-trào, Tống-quấc-Công, Trung cang nghĩa khí một ông linh thần.
Miễu tại Long-châu địa phần, Cựu trào thiết lập sữa mần đã lâu.
Tân trào cai trị lớp sau, Hỏi hang sự tích biết âu rỏ ràng.
Ba ngàn đồng bạc hậu ban, Đội ơn nhà nước cho làng trùng tu.
Hưởng nhờ huyết thựt thiên thu, Rộng thinh trước miễu giai cù thẳng ngay.
Thiếu chi chùa miễu đời nay, Tục người tế tự cũng hay kĩnh thành.
Thuở ấy ông Cao-văn-Sanh, Thiên tư mẫn thiệp khí oanh tánh hào.
Giải dầu hoạn hãi ba đào, Làm tôi giúp nước công lao rất nhiều.
Tống-Minh Tri-phủ cựu triều, Gia viên ẫn dật mỷ miều nho phong.
Xóm Cái-cá nhà ở đông, Có người phú thọ phải ông nhơn hiền.
Tên đặt gọi là Tống-Diên, Thiệt trang phước đức cao niên trong làng.
Phước-hậu thôn, ông Cã-Nhan, Tu nhơn tích thiện tiếng vang xa gần.
Nay đà cách biệt dương trần, Phước sanh thảo thuận để phần tữ tôn.
Quấc-âm cách đặt khéo khôn, Vĩnh-long toàn hạt tiếng đồn Giáo-Kim.
Tánh người nho nhã khiêm khiêm, An thường thủ phận chẳng thèm vọng tham.
Sanh Giáo-Thiệp cũng kỳ nam, Thơ hương kế mỷ chức làm Nghiệp-sư.
Siêng cùng nhựt nguyệt cư chư, Học trò thành đạt hiện chừ đương kiêm.
Chợ Ba-kè, thầy Tú-Nghiêm, Thiệt thà chơn chấc tánh khiêm diệu dàng.
Tốt thay Mỷ-thạnh một làng, Anh linh hiễn hích miễu quan Tiền-hiền.
Ngài xưa hưu trí qui điền, Chiêu dân lập ấp xóm riềng mở mang.
Ra công lập đặng thành làng, Gọi làng Mỷ-thạnh dọc ngang rộng dài.
Đến sau tách lại thêm hai, Mỷ-hưng Mỷ-hội phía ngoài hai thôn.
Với Mỷ-thạnh, là ba thôn, Tiền-hiền Cẫm-địa lưu tồn miễu môn.
Miễu ngài chánh Mỷ-thạnh thôn, Đến ngày kị lạp ba thôn tới đều.
Viên quan hương chức mỷ miều, Một câu thành kĩnh tạc biêu tấm lòng.
Lê-công-An, ấy tên ông, Bà là họ Đặng-thị-Thông rỏ ràng.
Ông bà công cán gian nan, Dựng nên cơ chỉ một làng ra ba.
Biết bao phước đức ông bà, Vợ chồng khi mất đều là ngày nguyên.
Ông nhằm vọng nhựt tháng giêng, Bà thì nhằm bữa hạ nguyên tháng mười.
Ngàn thu hương lữa rạng ngời, Sống sao thác vậy như người thần-tiên.
Gọi là miểu quan Tiền-hiền, Nơi làng Mỷ-thạnh cất riêng một tòa.
Có người gần đó không xa, Thầy Cai-tổng Điểm phú gia hào cường.
Giáp-thìn trận bảo tai ương, Bốn trăm giạ lúa qua đường Gò-công.
Giúp cho những kẻ khốn cùng, Đương cơn thiên biến cũng lòng thiện tâm.
Sông Mân-thích, cồn Cái-nhum, Truy nguyên sự tích lâu năm choạnh sầu.
Nhớ xưa Văn-Tiếp tánh Châu, Phò Cao-hoàng-đế trước sau một lòng.
Chức phong Đô-đốc Nguyên-nhung, Cúc cung tận tụy liều cùng quân-vương.
Nơi sông Mân-thích bị thương, Đem thân cảm dỏng chiến trường quyên sanh.
Anh hùng chí khí liệc oanh, Sử xanh tạc để đành rành còn ghi.
Làm tôi ngay thảo trọn nghì, Hưởng nhờ ơn chúa vinh chi cho bằng.
Biễn dâu dời đổi lăng xăng, Tổng làng nhơn nghĩa bỗn căng vuông tròn.

Bình-chánh tổng An-hội thôn, Cựu tân hương chức bảo tồn thỉ chung.
Ngọn rau tấc đất chữ lòng, Tu bồi miễu-vỏ tâm đồng hân hoan.
Bởi vì gốc có viên quan, Là chánh Tổng-Huởn sữa sang lịch đời.
Cù-lao giồng án các nơi, Người đều nhờ cậy lộc trời điền viên.
Chợ-lách có ông Huyện-Thiền, Làm tôi Nhà-nước nhọc siêng công trình.
Sảo thông chữ nghĩa học hành, Chiêu hiền đải sỉ đam mình dạy dân,
Giữ câu liêm cán thận cần, Sữa nên phong tục Mỷ thuần gần xa.
Các làng an ổn cữa nhà, Chẳng lo trộm cướp ngầy ngà ngày đêm.
Tế thần phép tắc tôn nghiêm, Y quan lể nhạc khiêm khiêm kính nhường.
Xóm riềng roi dấu yêu thương, Bình-sơn sở tại thôn hương tiếng đồn.
Chợ Vủng-liêm, Trung-tính thôn, Đình thần chùa phật nghiểm tôn trong làng.
Mấy nhà hào hộ giàu sang, Lắm tay khẳn khái lắm trang mẩn cần.
Đốc-phủ-sứ, Nguyễn-duy-Tân, Ngài đà hưu-trí dưởng thân thanh nhàn.
Trước sau danh giá vẹn toàn, Sanh con lập nghiệp vững an sum vầy.
Gò-ân, Nước xoáy lịch thay, Có ngôi Thần-miểu làng rày Hồi-long.
Thuở Cao-hoàng-đế Gia-Long, Bị Tây-sơn biến ngự trong ấy thường.
Ngày nay đông đảo thôn hương, Dấu xưa lễ nghĩa hào cường phú gia.
Miễu thần ngay chỗ ngã ba, Lầu đài cao vọi một tòa nghiêm trang.
Diện tiền triều thủy tam giang, Vách tường bốn phía tam quan cữa đình.
Phải là nhơn kiệt địa linh, Người nhờ cuộc đất thái bình dinh dư.
Thầy Tỗng-Nghĩa tánh nhơn từ, Gốc nhà phước đức còn chừ hiễn vang.
Con là Tỗng-Lễ rất nhàn, Thủ thành sự nghiệp bão toàn thinh danh.
Anh em sung túc gia đình, Phụng nuôi lão mẩu đẹp tình từ huyên.
Hồi-Long tứ cận xóm riềng, Giàu sang nhà ấy khuôn viên tiếng đồn.
Bình-trung tỗng, Trung-hưng thôn, Có ông Cai-tỗng danh tồn đương vi.
Tên người là Nguyễn-văn-Phi, Làm tôi giúp nước lắm khi thanh cần.
Bắt ăn cướp, đã nhiều lần, Khai kinh Mướp-sác nhơn dân đều nhờ.
Gốc nhà lương thiện tư cơ, Cha là Chủ-Báu thuở giờ lưu lai.
Sanh ra trai lớn, Nguyễn-Bài, Làm Hương-sư chức có tài cãm đương.
Bình sanh dỏng lực khác thường, Hào tâm hiệp khí chẳng nhường cỗ phong.
Nguyễn-Báu, Nguyễn-Bài hai ông, Đã đều về chốn âm cung xa miền.
Nguyễn-Phi sau nối mối giềng, Phụ huynh sự nghiệp nhơn hiền cã ba.
Phi, thêm kế mỷ thê gia, Ông Đỗ-văn-Tuấn trước là phụ ông.
Tuấn, làm Cai-tỗng Bình-trung, Nết-na ngay thẳng cám trông nhắc đời.
Bên mình bên vợ rạng ngời, Băng thanh ngọc nhuận phải người nhà sang.
Vĩnh long phong cảnh thanh nhàn, Nghiệp nhờ hột lúa muôn vàng thương sương
Sông to tôm cá có thường, Lưới chài xăm đáy sở trường làm ăn.
Xe mui đưa rước lăng xăng, Ghe lồng sắm đễ nghề năn buôn hoài.
Thuở kia khoa mục nhiều ngài, Hẫy còn tào phách lưu lai Thánh-hiền.
Thơ bài đờn địch chơi liền, Phong lưu lớp trước lưu truyền hậu sanh.
Tre bông vật mọn mà danh, Vĩnh-long với Mỷ tươi xanh đầy bờ.
Bến-tre, Sa-đéc, Cần-thơ, Cũng là có ít lờ mờ dạng bông.

Mấy anh thợ quạt hay dùng, Mua về Bình-định với cùng Phú-an.
Măng Mạnh-tông vật thiệt sang, Bụi tre coi nhỏ măng càng lớn to.
Long-hồ, Sa-đéc, Mỷ-tho, Nhiều nhà trồng đặng vật mua mắc tiền.
Mùi thơm không độc ăn hiền, Thịt heo hầm nấu mềm liền ngọt ngon.
Thấp cao cây mẹ cây con, Mạnh-tông tên đặt tiếng còn lưu danh.


Trà-Vinh

Trà-Vinh phong cảnh thi:

Tốt thay phong thổ xứ Trà-vinh,
Hứng cảnh vui xem cảnh thích tình.
Tiếng ruộng Đồn-điền roi sự tích,
Tên chùa Ông-Mẹt dấu anh linh.
Làm ra thần hiển phần Quan-bố,
Sức hóa giàu to mạng Tổng-Minh.
No ấm dân đều nhờ lúa gạo,
Bấy lâu an ổn bặc tâm kình.

Tốt thay địa hạt Trà-vinh, Hai mươi phần tổng thinh thinh rộng dài.
Thổ ở trong, Hớn ở ngoài, Giăng giăng theo xóm đua tài làm ăn.
Người còn roi dấu nho văn, Ruộng là sự nghiệp bỗn căng bạc tiền.
Mấy năm gầy dựng mối giềng, Công lao nhà nước nhọc siêng nhiều bề.
Lần lần nay mới chỉnh tề, Quan quân dinh dãy tư bề sữa đương.
Hai tòa phang niếc công đường, Ngân phòng điển xá học trường vẻn vang.
Nhà thờ Thanh-lệ nghiêm trang, Nhà lầu bà phước vững vàng dưới trên.
Ông-Mẹt gốc là người Mên, Kêu chùa Ông-Mẹt đặt tên cũng vì.
Nguyên xưa trong lúc loạn ly, Xui lòng Ông-Mẹt từ bi phát nguyền.
Của nhà tự xuất bạc tiền, Cất thành chùa Phật ngôi riêng trong làng.
Chánh trung phật lớn thết vàng, Nền cao rộng rãi tứ bàn trồng cây.
Xanh quan Lục Sãi ở đầy, Lá buôn viết chữ nét gầy tợ cua.
Tục Mên ăn học tại chùa, Thiệt thà chắc chắn quê mùa mà xong.
Gặp ngày cúng cấp đi đông, Bông hoa bánh trái đờn ông đờn bà.
Rặp bồn rặp bát ngâm nga, Vái vang quì mọp trẻ già khiêm cung.
Thổ táng phận người nghèo cùng, Giàu thì hỏa táng xây dùng quá đa.
Thường khi vái cất Tha-la, Lớn bằng căng phố người ta nghĩ ngồi.
Lệ chùa nào khánh táng rồi, Thì ngoài bốn phía đắp bồi Sa-ma.
Tục kêu rằng chót Sa-ma, Là nguyên các chủ cúng mà của riêng.

Hoặc là đồ đạt bạc tiền, Gởi cho cha mẹ cữu tuyền chứng thâu.
Ngoài chùa đào lỗ rộng sâu, Thĩnh thầy Sãi-cả kinh cầu vái vang.
Lòng thành cúng quảy kỉ càng, Cột hòn đá lớn treo ngang miệng hầm.
Mấy người khẩn niệm lăm dăm, Của chi mình gởi thì cầm nơi tay.
Quăng xuống lổ, không mấy đầy, Thầy cắt dây ấy đá rày trấn lên.
Đắp bồi nện chặc bốn bên, Miệng hầm lót gạch cái nền thẳng ngay.
Vuôn vuôn chừng một thước tây, Ngoài cất chòi nhỏ như nay Thổ-kỳ.
Dựng trong tấm đá y nguy, Hoặc chạm hình phật bất kỳ hình hoa.
Cũng gọi rằng là Tha-la, Tiếng Mên kêu chót Sa-ma mỷ miều.
Xanh quanh chùa bốn hướng đều, Mổi chòi mổi lổ tạc biêu thảo nhà.
Chùa nào chưa chót Sa-ma, Qui mô chùa ấy vậy mà chưa nên.
Trà-vinh biết mấy chùa Mên, Cây cao mát mẻ hai bên an nhàn.
Trung hưng thuở Đức-cao-hoàng, Nguyễn-Tồn chiêu tập hai ngàn Mên binh.
Thảy dân Mân-thích Trà-vinh, Thúc thành đội ngủ gọi binh Xiêm-đồn.
Truy nguyên sự tích ông Tồn, Người Mên vua đặt Nguyễn-Tồn tánh danh.
Sau thăng Điều-bát chức vinh, Một mình cai quản Xiêm-binh các đồn.
Nay miểu ở vàm Trà-ôn, Miểu ông Điều-bát hiện tồn anh linh.
Quấc vương thủy thổ hậu tình, Biển dâu đổi cuộc tiếng lành khôn mua.
Ngày sau tứ tánh nhờ vua, Kim, Sơn với Thạch quê mùa dấu roi.
Nhà việc Minh-đức hẳng hòi, Trên có chung-biểu để coi ngày giờ.
Thanh-nhơn hay sắm xe tờ, Chịu khi đưa khách đưa thơ các đường.
Ngoài vàm vô chợ thường thường, Tràm hai bên lộ dặm trường vãng lai.
Rẫy trồng bông trái nhặc sai, Tôm cua cá biển bán hoài cả năm.
Trầu cau không có bao lăm, Cải dưa bắp mía đất nhằm chổ yêm.
Trà-vinh có cảnh chùa chim, Chùa Mên thờ phật mà chim ở đầy.
Trời sanh vật mọn cũng hay, Nghỉ ngơi tìm chổ kết bầy quá khôn.
Trà-phú tổng Đôn-hóa-thôn, Người qua kẻ lại tiếng đồn đã lâu.
Khen loài cầm điểu ở đâu, Từ bi cãnh giới nhóm nhau kẹo lền.
Thầy tu xin phép quan trên, Không cho bắn phá vậy nên vững vàng.
Chim kia còn biết chổ nhàn, Người trương cung ná nó càng bay cao.
Huống chi cữa phật ra vào, Háo sanh ố sát ai nào nở tay.
Gừng sậy mùi thơm ít cay, Đờn bà làm mứt khéo bày ngọt thanh.
Mứt coi trong vắc sạch tinh, Người ta ăn mứt Trà-vinh nhắc hoài.
Kinh vào Chợ-trốt mới khai, Đường đi các tổng dặm dài voi vơi.
Khó bề nước uống nơi nơi, Khi nhờ bàu giếng khi trời mưa chung.
Miểu linh tại xứ Ô-đùng, Thờ quan Bố-chánh tữ trung thành thần.
Tướng Mên khi ấy loạn trần, Sa-Som khởi nghịch dậy rân một miền.
Đương hồi Thiệu-Trị tam niên, Trần-Hoài, Bố-chánh ngài liền xuất binh.
Hiệp cùng Tri-huyện Trà-vinh, Người nguyên khoa mục tên Huỳnh-hữu-Quan.
Phất cờ giục trống ó vang, Thừa cơ hổn chiến đánh tang trận đầu
Mên nghe súng nổ chạy nhầu, Trốn trong rừng bụi toan âu ngăn ngừa.
Ruổi thời Quan-bố bị mưa, Vào chùa tạm nghĩ binh thưa đề phòng.

Quân Mên tràng nhảy vô trong, Đương cơn bất ý chém ông Trần-Hoài.
Chém luôn Quan-huyện cả hai, Quân ta rả chạy đường dài trốn đi.
Hai ông hiển hiện bất kỳ, Bắt quân Mên thảy tức thì phát đau,
Lớp sôi bụng lớp nhức đầu, Kể dư trăm đứa cùng nhau hải hùng.
Dẩn Sa-Som nạp chẳng dung, Cất lên miểu-vỏ tại trong Ô-đùng.
Bốn mùa hương hỏa thạnh sung. Làm tôi thờ chúa hiếu trung trọn nghì.
Tại làng Hiếu-tữ y nguy, Tục kêu lăng miễu vậy thì đến nay.
Có câu liên đặt rất hay, Một bên bảy chữ dán rày trước hiên.

垣 翰 幾 年 文 頗 武
疆 塲 萬 里 死 猶 生

Lòng thành khả tác cữu nguyên, Dẩu nơi mang mạch linh thiên tiếng đồn.
Trung can nghĩa khí lưu tồn, Xát ma nằm đó mà hồn đã thăng.
Câm loài chim chuột liếu lăng, Nghịch trời thì mắc lưới giăng giửa trời.
Hạo nhiên chánh khí đời đời, Ngàn thu huyết thựt một nơi Miên tràng.
Lầu bà Cố-hỉ ba lằng, Ba làng ba chổ nghiêm trang ba tòa.
Trường-lộc, Phú-thứ, Thạnh-hòa, Trong ba thôn ấy có ba cái lầu.
Thờ bà Cố-hỉ đã lâu, Người hay vang vái nguyện cầu lắm khi.
Sắc phong Cố-hỉ Tiên-phi, Sơn-minh-hải-tạng còn ghi chữ đề.
Tứ bàn chùa miễu ê hề, Tại nơi Ba-động tư bề đẹp đông.
Chánh làng Trường-lộc thôn trung, Chùa-phật Miễu-cố lăng ông Đinh-thần.
Đều là tráng lệ thanh tân, Thường khi tế tự thói dân kính thành.
Lễ nghi roi dấu để dành, Thủ-khoa-Hoằng trước tác thành lưu lai.
Tục siêng rảy ruộng lưới chài, Nhơn dân trù mật trong ngoài lịch xinh.
Tan hôn thù tạc hậu tình, Gốc xưa nhơn nhượng của mình còn dư.
Ngặc vì nho giáo vô sư, Không ai dạy dổ khải ư nhi đồng.
Có ông phủ Lỏi giàu lung, Nay đà hưu-trí dưởng dung thanh nhàn.
Bãi-bùn nhiều mã cựu quan, Tại thôn Phú-thứ trong làng còn nguyên.
Xanh quanh tứ cận xóm riềng, Thường niên tế tảo cảm phiền bởi đâu.
Choạnh tình tấc đất ngọn rau, Tưởng người trên trước mình sau hết lòng.
Miễn ta làm phải là xong, Xét soi chứng có vun trồng cao sâu.
Làng Long-hậu, rạch Thâu-râu, Giếng bến Bà-Sở nước đâu có thường.
Ghe phen giãi khát quân vương, Cao-hoàng thuở ấy lắm đường khỗ lao.
Mộ quân đóng tại Cồn-ngao, Nhiều khi thất trận ra vào Côn-nôn.
Trường-tiền Đàng-tế hiện tồn, Dấu roi sự tích tại hòn Cỗ-chiên.
Đẹp thay phong cảnh Cỗ-chiên, Ba làng đông đảo điền viên mỷ miều.
Xứ trồng đồ rẩy cũng nhiều, Trên rừng dưới nước lợi đều giăng giăng.
Cá-ông thờ một sở lăng, Hàm còn hiện tại cao bằng người ta.
Miễu coi không mấy nguy nga, Song bề tế tự cũng là kỷ cang.

Cù-lao-phụng, Cù-lao-bàng, Cách nhau trên dưới một ngàn dòng xanh.
Nhớ xưa Khâm-mạng Triều-đình, Có quan Đại-sứ kinh dinh cương trường.
Tên là ông Nguyễn-tri-Phương, Đồn-điền thiết lập ruộng vườn phá khai.
Trà-vinh cuộc đất rộng dài, Quân Đồn-điền ước hơn vài ngàn dân.
Cầu-ngang Trà-cú xa gần, Đào kinh khẩn đất lần lần mở mang.
Ngày nay ruộng tốt muôn ngàn, Công ơn quan Nguyễn nhẫy tràng Trà-vinh.
Cầu-ngang chỗ rất, lịch thanh, Ông Lưu-minh-Mẫn rạng danh tiền-hiền.
Sữa làng Minh-thuận mối giềng, Nay còn ngày kị thường niên rở ràng.
Giữa chừng gặp lúc rối loàn, Có ông Phủ Nhiễu kĩ cang sắp bày.
Hiện đà hưu trí ngày nay, Vợ hầu sung túc no say cuộc trần.
Thầy chánh-tỗng Hợi có phần, Công lao giúp nước thận cần bấy lâu.
Hiện kiêm thi đậu huyện hầu, Đợi tờ thăng hỗ chói màu gấm thêu.
Giàu mà tánh ý không kiêu, Giữ nền phước đức kẻ yêu người vì.
Tục nơi Bến-có rất kỳ, Thuộc tỗng Trà-phủ làng thì La-vi.
Mỗi năm thập nguyệt đáo kỳ, Lễ Ót-tầm-bốc gốc thì của Mên.
Che chòi buôn bán hai bên, Nhóm nơi Bến-có dưới trên sum vầy.
Nội trong ba bốn đêm ngày, Dừa tươi với chuối đông dầy người ta.
Bữa đầu kễ bữa mười ba, Đến ngày mười sáu nhóm mà luôn luôn.
Dập dều Hớn, Thỗ không buồn, Ba-ngoe bong vụ bày tuồng ăn thua.
Chuối dừa Mên thảy đi mua, Mua nơi Bến-có cúng chùa quí hơn.
Lưu truyền lệ của cỗ nhơn, Ông bà người Thỗ khéo cơn đặt bày.
Ao-vuông cảnh cũng đẹp thay, Tại Trà-phú tỗng ranh ngay hai làng.
Lượng-sa, Đôn-hóa, rỏ ràng, Dấu xưa tích củ coi càng vui say.
Ước chừng hai ngàn thước tây, Tư bề vuôn vức thẳng ngay một tòa.
Dưới thời ngư thủy liên hoa, Trên thời bờ lũy diềm dà cây giăng.
Tiếng Cu-bà-rẹt-ta-băng, Nguyên là tiếng Thổ bỗn căng chuẩn thằng.
Dịch ra tiếng Hớn gọi rằng, Lũy-ao-hồ-phật Chà-văn vậy mà.
Dịch thành ra chữ nhu ta, Tiếng người cải dụng kêu là Trà-vinh.
Thuở cựu có Phường-nữ-Trinh, Tại Lai-vi xã niên kinh bại tàng.
Thị-Duông tuy gái Mên mang, Mà lòng nghĩa liệc trinh nhàn khả phong.
Trinh-Phường trải mấy thu đông, Ngói vôi xiêu ngã sạch không tan tành.
Thầy Cai-tổng Huỳnh-nhựt-Thanh, Chuyện làm phải nghĩa mình đành khải đoan
Thiện nam tín nữ lân bàn, Chung tiền sữa lại kĩ càng như y.
Trùng tu nghiêm chỉnh oai nghi, Bốn mùa hương khói vỉnh vi để đời.
Câu liên trước cữa rạng ngời, Triều-đình thưởng tứ miệng người đọc vang.

強勿自攖聖主隆恩荣不朽
貞肝全節朝廷表善類無遺

Trải xem Giồng-lượng Bãi-xang, Nhà thờ Thiên-chúa vẻn vang hai từng.
Tứ bàn hoa thảo thanh tân, Mỗi tuần giảng dạy thói dân thuận hòa.
Ruộng vườn no đủ mọi nhà, Đọc kinh xem lể trẻ già khôn lanh.
Lại thêm Bà-phước hiền lành, Đồng nam đồng nử trưởng thành thất gia.
Vàm Láng-thé, làng Long-hòa, Có tên Bãy-Lợi phát ra làm thầy.
Dại điên dốt nát quá tay, Thân chủ lui tới đông dầy đồn rân.
Chuyện làm hoặc thế vu dân, Khen cho thiên-hạ rần rần nghe theo.
Dị đoan phĩn dỗ nhầm dèo, Rồi ra lầm lỗi hiểm nghèo biết nhiêu.
Bình-phước thầy Cai-tổng Nhiều, Sanh tiền diện mạo mỷ miều nghiêm trang.
Tu mi đoan chánh diệu dàng, Phong lưu nho nhã các làng nhắc trông.
Vủng-gù qua đó dưỡng dung, Quí dân lập ấp mở sung mối giềng.
Dựng làng Khánh-lộc nên riêng, Việc quan cần cáng nhọc siêng công trình.
Bấy lâu về cỏi âm-minh, uKhông con có cháu gia đình nối sau.
Hương-chủ ông Lâm-quan-Châu, Lập làng Huyền-thạnh buỗi đầu sơ khai.
Chợ kêu Ất-ếch lâu dài, Dựng nên sự nghiệp trong ngoài Trà-on.
Ông Lâm-quan-Phước là con, Chuyên nghề làm ruộng sắc son sức mình.
Tên ngoài người gọi Tổng-Minh, Làm ra cự phú tiếng vinh Nam-kỳ.
Thiệt là giàu lớn bực nhì, Với ông Phát-Đạt đều thì tay sang.
Chịu hai muôn bạc với quan, Để mà mua sỏi đổ trang trên đường.
Ước bảy ngàn thước bề trường, Tại nơi Ô-chát đầu đường ngã ba.
Giáp vô Huyền-thạnh xa xa, Khỏi lo bùn lấm vào ra dể dàng.
Nay đà tách chốn suối vàng, Tữ an sanh thuận danh càng thơm rơi.
Đông con đông cháu nối đời, Có tên Quan-Vận lập nơi học trường.
Tát thành trẻ nhỏ thôn hương, Bao nhiêu tốn phí lo đương của nhà.
Cần-chông xứ rất hào hao, Cư dân trù mật phố nhà thạnh sung.
Bắc ngang cầu sắc qua sông, Ở xa ngó tợ hình rồng cong cong.
Cả đồng Rạch-lọp minh mông, Phì nhiêu điền địa lúa sung hằng hà.
Những người các xứ vào ra, Lập thành sự nghiệp thất gia ở đều.
Mùa mưa mòng muổi quạnh hiu Qua mùa thâu hoặch biết nhiêu bạc tiền.
Thạch-In Hiệp-quản Đồn-điền, Người Mên mà có đức hiền thiện tâm.
Tân-triều Cai-tổng mấy năm, Thạch-Vầu nối chức dạ châm làm người.
Đẹp thay Mặc-bắc thanh tươi, Nhà thờ Thiên-chúa một nơi chỉnh tề.
Mỗi tuần kinh sách phủ phê, Tại làng Long-định tư bề quá đông.
Sông cái ngoài vàm Cần-chông, Ngó ngang Vàm-tấn minh mông liên bì.
Tiếng đồn cá cháy Nam-kỳ, Cá nơi sông ấy vậy thì có danh.
Bắc-trang địa cảnh cũng xinh, Song mà phong tục tệ tình chưa an.
Trữ hoa trộm cướp trong làng, Thuốc thư kiện cáo tìm tàng hại nhau.
Đổi qua Phủ Huyện trước sau, Không phương sữa trị đã lâu vậy hoài.
Có nhà giàu lớn lâu dài. Đội mười Nhơn trước đa tài đa đinh.
Ngã ba Trà-cú kinh dinh, Mình làm suất-đội nổi danh Đồn-điền.
Ông Nhơn người có đức hiền, Mấy năm gầy dựng mối giềng vỉnh vi.
Nay còn con cháu nhơn nghì, Nhờ xưa phước ấm đều thì giàu sang.

Một trăm tám chục ba làng, Trà-vinh toàn hạt đất càng rộng quanh.
Thanh-lệ, Minh-đức, châu thành, Bấy lâu thói tệ trớ trinh nhiều bề.
Thuở quan Tham-biện Lang-Lê, Bị quân thích khách nhảy kề chém tay.
Số ngài cũng gặp hồi may, Chẳng chi thì đã xuống rày âm cung.
Sau thêm danh Trọng hành hung, Sát nhơn bạch nhựt mạng đồng phù-du.
Thông-Chánh chuyện không đáng thù, Bắn quan Biện-lý tu du bỏ mình
Quấc gia cứ lẻ công bình, Hai người xữ tữ phân minh răng người.
Nghĩ đi nghĩ lại nực cười, Mang câu huyết khí ở đời sao xong.
Lắm người không xét đục trong, Đặt vè tầm bậy điên khùng bia danh.


Sốc-Trăng

Sốc-trăng phong cảnh thi:

Phì nhiêu điền thổ chổ trời sanh,
Thành phố Sốc-trăng cảnh lịch thanh.
Gốc trước Triều-đình cho Lạp-chúa,
Ngày nay phang niếc đủ tòa dinh.
Miễu ông Ba-Thắc linh thiên cổ,
Gạo xứ Ba-xuyên đệ nhứt danh.
Nhiều lớp lai ra con cháu khách,
Dấu còn Thiên-địa-hội đua tranh.

Sốc-trăng địa cuộc rộng thinh, Thuộc Ba-xuyên phủ đất bình phì nhiêu.
Từ Vàm-tấn, thấu Bạc-liêu, Cao-hoàng thuở trước đã đều chĩ minh.
Cho vua Chơn-lạp Nắc-In, Địa phần Ba-thắc đinh ninh đã đà.
Đến sau Nhà-nước Lang-sa, Phân cương định giái chia ra hai tòa.
Sốc-trăng một hạt vậy là, Bạc-liêu riêng hạt ở mà phía trong.
Dân cư làng xóm thạnh sung, Các nơi giồng án ruộng đồng minh mông.
Nhà ưa cất để vách xông, Viết chữ thần lớn chánh trung phụng thờ.
Triều-châu di chưởng bao giờ, Lai con cháu khách lợi nhờ nghề nông.
Thường niên hột lúa nhẩy đồng, Xứ không vườn tược ít trồng trầu cau.
Ghe buôn chở chuối chở trầu, Ngày vô Vàm-tấn trước sau điệp trùng.
Tôm cua cá biển dư dùng, Gạo ngon thơm dẻo tiếng cùng gần xa.
Bất kỳ ngoài chợ trong nhà, Người buôn kẻ bán đều là dụng cân.
Các làng thảy có miễu thần, Mà thần có sắc ước chừng năm thôn.
Một tòa miễu mới nghiễm tôn, Tại Nham-lăng xã giữa thôn châu thành.

Mẹt-Tăng người rất hậu tình, Thuở làm Chánh-bố quãn hành tiện nghi.
Ra ơn giúp sức lắm khi, Dành đất miễu lại vĩnh vi cho làng.
Miễu nay căng giữa trung giang, Thờ ông Quan-đế một bàn khuôn viên.
Thành-hoàng bỗn cảnh tả biên, Lảnh-binh, Bình-bị, hữu biên thiết trần.
Phụ thêm Thần-chủ Mẹt-Tăng, Xuân kỳ thu báo lể hằng nghiêm trang.
Triều-châu Phước-kiến hai bang, Chùa thờ ông Bỗn sữa sang kính thành.
Nham-lăng sở tại Châu-thành, Phố nhà chợ búa lịch thanh chĩnh tề.
Xe tờ sắm sẳng bộn bề, Bải-xàu Vàm-tấn khi về khi đi.
Nhà việc đẹp bấy oai nghi, Bực đường xây gạch đều thì vẻn vang.
Tuy là xứ sở Mên mang, Kinh niên người Hớn ở an đông dầy.
Lễ văn phép tắc đặt bày, Dần dần dạy biểu hóa nay mỷ thuần.
Viên quan hương chức mỗi tuần, Thơ bài đờn địch vài lần nhóm chơi.
Lắm tay cờ bạc lanh đời, Bài ngà tứ sắc vui chơi đánh thường.
Hai tòa phang niếc công đường. Thượng ti bố án minh tường đoán phân.
Thuộc liêu văn vỏ thận cần, Nhơn dân các nước ăn mần thảnh thơi.
Học trường nam nữ riêng nơi, Buỗi chiều lại với buỗi mơi công trình.
Quốc gia dưởng sĩ hậu tình, Học trò khuyên chớ đem mình lảng du.
Thuở trước có ông phủ U, Gốc là người Thỗ mà nhu nhã nhiều.
Ghe phen nhà nước chuộng yêu, Tuy đà tữ biệt còn biêu tiếng lành.
Annam chữ nghĩa có danh, Phủ-Hữu, Huyện-Thuận người lành đoan trang.
Hữu đà hưu trí thanh nhàn, Thuận thôi hành chánh tánh càng thiện lương.
Bãi-xàu đông đảo phố phường, Trong chợ ngoài bảo cầu đường đẹp xinh.
Miễu ông Ba-Thắc anh linh, Nguyên xưa người Thổ nhọc mình mở mang.
Lập ra bốn phía xóm làng, Lê-trào thuở ấy Mên mang người nhờ.
Ngày nay rộng rải cỏi bờ, Càng thêm ruộng tốt tư cơ bạc tiền.
Bốn mùa phụng thủ hương yên, Đến khi tế tự xóm riềng âu lo.
Lịch thay phong cảnh Dầy-tho, Thói xưa còn lại phải trò ăn chơi.
Tục Mên cổ lệ để đời, Mỗi năm tháng chín ghe bơi đua cùng.
Vàm Dầy-tho, cã một sông, Nhóm nhau tới đó điệp trùng những ghe.
Gọi rằng lễ tống nước về, Trong hai ba bữa đồng hè đua đưa.
Gốc là thói cũ lớp xưa, Thổ nhơn còn hẫy giây dưa lệ làng.
Ghe to lồi mắt xanh mang, Chở chuyên lúa gạo nhẩy tràng khỏa theng.
Xuống lên Chợ-lớn bán quen, Tiếng gạo Ba-thắc ngợi khen Nam-kỳ,
Tang hôn thù tạc đủ nghì, Tục hay xính xái luận gì thấp cao.
Các thôn ở các cù-lao, Cũng là thành thiệt tiếp giao một lòng.
Kinh Cà-lăm, Đỗ-khắc-Long, Làm ruộng có tiếng thưởng sung Huyện-hàm.
Tỗng-Phát cũng người Annam, Đất oan khai khẫn mình làm ruộng to.
Khéo khôn gầy dựng qui mô, Nay thành giàu lớn cơ đồ thạnh sung.
Toàn hạt dân Thỗ quá đông, Trãi xem phong tục lượt đồng Trà-vinh.
Chùa Mên lắm chỗ hiễn linh, Chùa phật Bốn-mặc kêu danh rất kỳ.
Nguyên là cột đá y nguy, Cũng không mấy lớn chạm thì khuôn viên.
Phía trên ông Phật chạm riêng, Cũng luôn đá ấy mà liền dưới trên.

Dưới thì vuôn vức bốn bên, Mổi bên đều chạm kiểu Mên phật hình.
Chùa Mên các sốc xanh quanh, Có ông Sãi-cã nên danh làm thầy.
Tuổi cao tát lớn phước dày, Đi thời vỏng lọng đông dầy tống nghinh.
Dân Mên mấy xóm linh tinh, Trọng ông Sãi ấy đua tranh rước dùng.
Chót Sa-ma, xứ Tắc-gồng, Chổ chùa giàu lớn gởi sung đồ đoàn.
Thiếu chi chùa Thổ trong làng, Tắc-gồng thứ nhứt tiếng sang ngợi đồn.
Tới mùa rập bát rập bồn, Lễ ăn Tân-tốc roi còn lâu xa.
Các gò đất, thờ Ông-tà, Nghĩa là tục Thổ gọi mà đất đai.
Người ta hay vái cúng ngài, Bất kỳ Hớn Thổ gái trai kính vì.
Cũng như Thổ-chủ Thổ-kỳ, Thường khi linh nghiệm tức thì chiêu chương.
Nhớ xưa thủy thổ Quốc-vương, Sốc-trăng phong tục không đường xa hoa.
Mổi ngày xây dụng việc nhà, Hoặc khi kị lạp hoặc là tang hôn.
Sắp bày không mấy khéo khôn, Mặc dày ăn chắc dân đôn hậu tình.
Thói quen huyết khí đua tranh, Lập Thiên-địa-hội, sát sanh thề nguyền.
Sa-keo Phố-thảo các miền, Rủ nhau phe đảng lén riêng lằng xằng.
Nhiều phen phép nước cấm ngăn, Hẩy còn giấu giếm bỗn căng chưa tàn.
Làm ăn năm tối bình an, Hay tin Ông-bỗn vái vang hoài hoài.
Địa phần mười tỗng trong ngoài, Chín mươi ba xã rộng dài dọc ngang.
Sốc-trăng chữ đặt Nguyệt-giang, Ấy là sáng tốt rỏ ràng như trăng.
Chợ-đông thứ nhứt đâu bằng, Bải-xàu, Đại-ngải, nhơn dân hào cường.
Vủng-thơm, Giang-có, thường thường, Chợ kêu Phú-lộc phố phường lai rai.
Mùa đuông cũng có đủ xài, Rừng kề mé biễn hưu nai quá nhiều.


Bạc-Liêu

Bạc-Liêu phong cảnh thi:

Muối đỏ Nam-kỳ tiếng Bạc-liêu,
Phong lưu nho nhả chẳng bao nhiêu.
Gạo cơm Xứ-lẻo người no đủ,
Chiếu sáp Cà-mau chúng chuộng yêu.
Đạo thánh hiền xưa ham hố ít,
Dân thiên-địa-hội lén theo nhiều.
Thói quen háo thắng mà gan ruột,
Nghịch ý ngàn muôn cũng đánh liều.

Tốt thay phong thổ Bạc-liêu, Có danh muối đỏ ruộng nhiều lắm thay.
Nghề nông thứ nhứt trong tay, Tiếng gạo Ba-thắc thuở nay danh đồn.

Năm tổng năm mươi hai thôn, Kể trong thủy lợi kể khôn xiết cùng.
Cá đồng cá biễn cá sông, Ốc đuông ba khía chim cùng tôm cua.
Ăn ong sáp mật tới mùa, Trong rừng cờ bạc hơn thua trăm ngàn.
Rừng-ong tục gọi Rừng-ngang, Ngang có phần đất như lành có ranh.
Mùa ong nơi giữa rừng xanh, Người ta đông đão xanh quanh ở đều.
Kẻ lui kẻ tới dập dều, Khách đem bạc nhiều vào đó hốt me.
Tay con sẳng sap ê hề, Đánh theo giá bạc cứ bề ăn chung.
Mùa rạch ghe rổi đậu đông, Kẹo lền hai phía chực đong cá đồng.
Nghề quen khéo dệt chiếu bông, Hai ba bốn hạng theo trong đồng tiền.
Kheo khư các chỗ xóm riềng, Sắm đồ dệt chiếu nhọc siêng từng nhà.
Thạnh-hưng với tổng Thạnh-hòa, Ruộng hai thứ tốt nhiều nhà giàu lung.
Quảng-xuyên Long-thủy Quảng-long, Ấy là ba tổng phía trong thảy đều.
Ruộng thì ít, đất thì nhiều, Lợi nhờ rừng rạch biết nhiêu bạc tiền.
Đất oan theo mé đất liền, Tại Kinh-trâu-trắng giáp miền Kiên-giang.
Bạc-liêu đất lắm hoan nhàn, Nguyên xưa tiểu Huyện mở mang lần lần.
Bởi Thiên-địa-hội rần rần, Gốc con cháu khách lẫy lừng đánh nhau.
Cho nên nhập với Cà-mau, Lập riêng một hạt khỏi âu dân loàn.
Nay đà dinh dãy nghiêm trang, Phố phường chợ búa dọc ngang chỉnh tề.
Bên phang bên niếc luật lề, Đâu đâu sắp đặt chớ hề sai ngoa.
Ngân phòng điển báo các tòa, Nhà thương nhà phước đều là sữa sang.
Cầu đường sạch sẻ vẻn vang, Trường học dạy dỗ kĩ cang tỏ tường.
Hòa-bình Vĩnh-lợi thôn hương, Miễu chùa tu chĩnh lữa hương lâu dài.
Sốc Mên các chổ trong ngoài, Ở xen theo Hớn một vài nơi vui.
Ghe lớn mang xanh mắt lồi, Đi buôn lúa gạo khứ hồi liền khoanh.
Lớp xưa giàu lớn có danh, Ông Hương-hào-Hứ châu thành Bạc-liêu.
Dấu roi thiên-hạ chuộng yên, Hẩy còn con cháu mỷ miều hiển vang.
Rể là ông Lý-hảo-Hoan, Tiếng ngoài kêu gọi rỏ ràng Cả-Hoanh.
Năm-thìn tháng tám ngày lành, Thấp đèn trời với tụng kinh khẫn nguyền.
Thành tâm bố thí gạo tiền, Ai mà đi đến lảnh liền tay trao.
Mổi người gạo trắng một bao, Lại năm cắt bạc kêu vào không sai.
Chừng ba ngàn bạc trong ngoài, Thiện tâm như vậy lâu dài tiếng sang.
Nay đà về chốn suối vàng, Dấu biêu nhơn đức rỏ ràng về sau.
Châu thành xứ ít trầu cau, Nhờ làng Tân-khánh Cà-mau lên liền.
Rạch-gầm Cao-lảnh các miền, Hàng bông chuyên chở thường xuyên vô hoài.
Sông Cổ-cò, quá sức dài, Chín mươi chín khúc ít ai hiểu tường.
Éo le rạch hẹp đi thường, Khen người cầm lái chủ trương tàu đò.
Bát qua cạy lại quanh co, Từ vàm Cổ-cò thấu chợ Bạc-liêu.
Bán buôn thói cũng mỷ miều, Cứ trong cân lượng phép theo công bình.
Đánh me tục khéo trớ trinh, Đầu ba chén xả cho minh cửa gì.
Rồi thì coi đó làm ni, Chén thứ tư mới đánh khi trậc nhằm.
Hay chơi bài bạc cả năm, Ăn thua không kể tiền trăm tiền ngàn.
Nhơn dân tánh ở lớn gan, Gốc thiên-địa-hội thói ngoan roi còn.

Nguyên xưa giao cấu đẻ con, Mẹ Mên cha Khách lai còn đến nay.
Chùa Mên các sở đông dầy, Cũng là một cách sải thầy thạnh sung.
Xóm-cái-hưu, ở phía trong, Nhà thờ Thiên-chúa mới đông xóm riềng.
Mổi tuần kinh sách liền liền, Bởi ông Linh-mục dạy siêng hết lòng.
Làm ăn nhờ cậy nghiệp nông, Kiệm cần khen bấy đờn ông đờn bà.
Cà-mau ba tổng trong xa, Thuở Cao-hoàng-đế vô ra lánh nàn.
Tùy tùng bộ hạ các quan, Náu nương lập nghiệp xóm làng các nơi.
Sanh ra con cháu nối đời, Gốc xưa lể nghĩa lắm người lịch thanh.
Trước Phủ-Y, sau Huyện-Bình, Đề-Thiền, Đồ-Mỷ, tiếng lành còn dư.
Nay thời Tổng-Nhượng Tổng-Từ, Hai người danh giá tại chừ Cà-mau.
Nhượng thời hưu trí đã lâu, Từ, thời nhứt hạng sửa trau đương quyền.


Cần-Thơ

Cần-thơ phong cảnh thi:

Phong cảnh Cần-thơ phát tự nhiên,
Mấy năm khai khẩn đất thành điền.
Lầu đài quan bố nơi sơn thủy,
Kho lẫm nhà giàu lúa vạn thiên.
Xe kiến sắm đưa hằng chực rước,
Ghe hầu kiểu đóng khéo khuôn viên.
Đạo nhu chữ nghĩa còn roi dấu,
Nhờ bởi người xưa gốc dạy truyền.

Cần-thơ xứ lắm bạc tiền, Bởi vì thổ sảng điền viên cả ngàn.
Chín tỗng trong chín mươi làng, Ruộng thuộc ruộng khẩn muôn vàng biết nhiêu.
Vườn nhờ huê lợi cũng nhiều, Bông hoa cây trái mỷ miều thường niên.
So cùng mấy hạt các miền, Cần-thơ thứ nhứt mối giềng giàu sang.
Châu-thành sở tại Tân-an, Dưới kinh trên lộ dọc ngang tư bề.
Phố phường lầu cát chỉnh tề, Phía tiền một dảy bực lề thẳng ngay.
Trên bờ buôn bán đông dầy, Dưới thì ghe cộ đậu dày ngoài trong.
Lài lài đá cẫn mé sông Cầu tiêu sạch sẻ dân không hiểm nghèo.
Đường thi đèn thắp sáng đều, Cầu tàu hai chổ cao hều thẳng bằng.
Tàu đò lớn nhỏ lăng xăng, Ghe đò các chợ giăng giăng nẻo đường.
Súp lê kêu gọi thường thường, Rước đưa đưa rước các phương bộ hành.
Phang tòa nội ngoại chư dinh, Dựa kề sông cái rộng thinh giai cù.

Quan chánh bố Đờ-La-Nu (Delanoue), Ngài hay kinh lý chỉnh tu mẫn cần.
Trước đà sữa hạt Sốc-trăng, Siêng năn danh tiếng xa gần ngợi vang.
Các nơi trường tổng trường làng, Sở tại thành phố trường quan đông dầy.
Quan Giám-đốc tên U-Trây (Outrey), Nam-kỳ Phó-soái ngày nay đương quyền.
Bấy thu giúp nước nhọc siêng, Sửa sang Dầu-một mối giềng mới đây.
Khi đấu xảo thành Mạc-xây (Marseille) Ngài làm đầu hội ra tay điều đình.
Trước sau biết mấy công trình, Phải trang lẩm liệt cang thành quốc gia.
Quản-đông công sỡ một tòa, Đồng tâm sáng tạo cất ra bên đường.
Gốc còn chử nghĩa văn chương, Miểu chùa tế tự tỏ tường lể nghi.
Tang hôn ngộ sự bất kỳ, Vãng lai thù tạt phải nghì tương thân.
Cần-thơ cảnh rất thanh tân, Mấy thầy tùng chánh mẫn cần việc quan.
Bấy lâu ruộng đất mở mang, Nay đà nên chốn muôn ngàn phiền hoa.
Lúa nhiều thì bạc đầy nhà, Thiên thời địa lợi đặng và hai bên.
Miểu thần cách mới sữa nên, Tại Tân-an xã dưới trên một tòa.
Cất làm như kiểu chùa bà, Xuân kỳ thu báo thuận hòa nghiêm trang.
Quãn-hạt ông Hồ-bảo-Toàn, Hàm Đốc-phủ-sứ khí nganh tánh hùng.
Lưu tâm cần cáng nghiệp nông, Mấy trăm mẫu ruộng ở đồng Xẻo-môn.
Qui dân ước đặng tiễu thôn, Lập thành qui cũ khéo khôn ở đời.
Trúng mùa mình đặng thảnh thơi, Hưởng nhờ lúa gạo lộc trời làm ra.
Rừng sậy phần tổng Định-hòa, Mười ba thôn xã xứ mà lắm voi.
Nguyên xưa đất rộng hẳn hòi, Kinh chưa đào mở rạch ngòi chưa thông.
Qua mùa nước ngập minh mông, Voi trên sông lớn xuống rông băn ngàn.
Lâu lâu quen ở đã an, Dậm bờ đạp lúa cả đoàn hơn trăm.
Kinh đào đường mở mấy năm, Xà-no, Đông-lợi, Láng-hầm, Ô-môn.
Lũ voi sanh đẻ dập dồn, Các ông thợ bắn các thôn hiệp vầy.
Biết bao công cán nặng dày, Bốn mươi dư thớt bắn rày mới an.
Ngà voi bán có bạc ngàn, Lại thêm trừ bớt khốn nàn nhà nông.
Càng ngày thêm thạnh thêm sung, Nhẩy tràng hột lúa lưu thông Nam-kỳ.
Ghe hầu nội hạt thiếu chi, Khôn lanh kiểu vở nhứt thì Cần-thơ.
Nhơn dân bền vững tư cơ, Hềm vì một nỗi tục chưa mỷ thuần.
Thường khi đạo kiếp thành quần, Tòa sơ phân xữ mỗi tuần nhọc siêng.
Đại hình giải lại Long-xuyên, Thường nghe kêu án dân miền Cần-thơ.
Lịch thay các sở nhà thờ, Đọc kinh xem lể ngày giờ lệ siêng.
Trên thì Linh-mục dạy khuyên, Thêm nhờ bà phước đức hiền tu thân.
Cù lao nội hạt xa gần, Thanh lịch thế thần mình chỗ Lao-mây.
Trời sanh cảnh cũng đẹp thay, Ruộng vườn giồng rẩy nhặc dày ba thôn.
Lịch thay địa cuộc Trà-ôn, Miễu ông Điều-Bát lưu tồn đến nay.
Người Mên mà dạ thảo ngay, Ngàn thu huyết thựt hiện bày anh linh.
Xóm làng tế tự kính thành, Ngọn rau tấc đất đã đành nhớ xa.
Chợ Cái-răng, xứ hào hoa, Phố lầu hai dảy xinh đà nên xinh.
Có trường hát, cất rộng thinh, Để khi hứng cảnh thích tình xướng ca.
Chợ Bình-thủy, ông Thủ-khoa, Tên Bùi-hữu-Nghĩa gốc nhà nho lâm.

Công phu đèn sách mười năm, Lúc ra ứng cữ đậu nhằm Giải-nguyên.
Bình sanh chí đạo thánh hiền, Thiên tư chánh trực tâm điền hào hoa.
Thường khi sắp đặt nôm na, Bỗn tuồng Kim-Thạch diễn ca khéo lời.
Với Huỳnh-mẫn-Đạt đồng thời, Hai ông thơ phú làm chơi bộn bàn.
Ruỗi ro gặp lúc binh hoan, Chí cam ẩn dật phận an thanh bần.
Minh không xu phụ thế thần, Vẹn toàn danh giá xa gần ngợi phong.
Tác thành môn đệ cũng đông, Nay còn con cháu sĩ nông thủ thường.
Ông Minh-sư-Thảo Phật-đường, Hiệu xưng Nam-nhã giữ đường chơn tu.
Gốc người sảo biết chữ nhu, Lập chùa nay đã mấy thu thanh nhàn.
Tắc-bàu-hút, cảnh cũng sang, Cữa nhà đông đảo dân an ruộng vườn.
Bắt-sa-ma, các thôn hương, Tại Tuân-giáo tỗng chỗ đường Thơ-đôi.
Đất rừng ruộng tốt vô hồi, Bởi người ra sức tài bồi mấy đông.
Nay thành một sở minh mông, Qui dân tụ chúng cả đồng vạn thiên.
Xa quan cách trở một miền, Người Mên kẻ Hớn liền liền thói gian.
Trâu ghe lậu liễu hoa tàng, Ở trong địa phận xóm làng giăng giăng.
Chợ đông buôn bán lăng xăng, Cần-thơ thứ nhứt Cái-răng thứ nhì.
Ô-môn, Bình-thủy, La-ghì, Trà-ôn, Trà-luột đều thì chợ sung.
Chợ Phong-điền, nhóm quá đông, Cái-vồn chợ ở ruộng đồng quanh xa.
Cần-thơ sông cái ngang qua, Tới vàm Từ-tải luôn ra Cái-vồn.
Khắp ngàn vườn ruộng hương thôn, Giáp qua Sa-đéc chỗ đồn Nha-mân.
Trời sanh địa cuộc thanh tân, Sông-sau Sông-trước đường gần giáp ngang.
Từ-tải vàm bên Hậu-giang, Nha-mân vàm phía Tiền-giang các cồn.
Thông nhau bởi rạch Cái-vồn, Ghe buôn qua lại tiếng đồn thuở nay.
Chiếc lui chiếc tới đông dầy, Hai đầu giáp nước nhặc dày vào ra.
Lưởng biên sung túc của nhà, Vườn trồng cây trái bông hoa cũng nhiều.
Nhà thờ trường học mỷ miều, Đình thần chùa phật cảnh đều vẻn vang.
Cầu-kè chợ cũng kĩ cang, Nhơn dân phố xá lịch sang chỉnh tề.
Hớn Mên với khách ê hề, Đất nhờ hoa lợi phủ phê viên điền.


Long-Xuyên

Long-xuyên phong cảnh thi:

Ngùi xem phong cảnh xứ Long-xuyên,
Cám thuở Cao-hoàng vận đảo điên.
Hòn núi Thoại-sơn kinh Lạc-dục,
Cù-lao Ông-chưởng miễu linh thiên.

Cõ hoa chim cá mừng non nước,
Chàm đậu tầm tơ đở xóm riềng.
Làng tổng nơi nơi đều mỷ tục,
Tân cần tập tánh tánh càng siêng.

Long-xuyên thuộc phủ tuy biên, Cựu-trào có đặt Tây-xuyên huyện đường.
Vàm đặt Tấn-thủ phân cương, Lúc Tây-sơn loạn quân thường giữ canh.
Tân-trào thiết lập Châu-thành, Kêu Long-xuyên hạt đành rành mới sau.
Đất nhiều điên-điển cỏ lau, Qua mùa nước ngập ở đâu trôi đầy.
Cù-lao-gieng cảnh lịch thay, Dinh-châu chữ đặt chổ rày đẹp xinh.
Nhà thờ cao vọi thinh thinh, Nhơn dân trù mật vui tình ấm no.
Các ông Linh-mục siêng lo, Mổi tuần dạy dỗ xem dò luật kinh.
Các bà-phước, phận hiền lành, Phụ công phụ hạnh tu hành chẳng sai.
Tầm tơ nghề nghiệp hôm mai, Lợi trong thổ sảng gái trai đều nhờ.
Ruộng là căng bổn tư cơ, Rẩy trồng bông trái cõi bờ sáng trưng.
Đất ưa giống lúa tham-đưng, Mình cao chịu nước nặng cân khá tiền.
Bắp khoai dưa mía các miền, Dân cư đạo ngoại tánh siêng năng thường.
Vẻn vang có chổ học trường, Trẻ con đèn sách khiêm nhường nết na.
Tàu đò lớn nhỏ lại qua, Bộ-hành lên xuống vào ra dể dàng.
Các Cù-lao, các xóm làng, Lao-gieng thứ nhứt lịch sang tiếng còn.
Thốt-nốt ngang qua Tra-mòn, Miểu-chùa tế tự vuôn tròn lể nghi.
Tang hôn phải đạo nhơn nghì, Gốc xưa văn học phú thi lưu tồn.
Trà-mòn bí-rợ tiếng đồn, Lấp-vò trứng-vịt đã ngon lại nhiều.
Ghe đi buôn bán dập dều, Tới hai xứ ấy thảy đều có mua.
Thủ-chiến-sai xứ quê mùa, Nhà dân đông đảo miễu chùa nghiêm trang.
Trại cưa dảy dọc dảy ngang, Chuyên nghề ươm dệt cả làng thói siêng.
Nam phụ nội thôn Tú-điền, Đều là biết dệt nghề riêng trong nhà.
Xanh quanh mấy chổ gần xa, Mua hàng Chợ-thủ tiếng đà thuở nay.
Trời sanh phong thổ cũng hay, Trên tơ lụa đủ dưới cây ván nhiều.
Công ngôn dung hạnh mỷ miều, Gái hay thêu dệt người đều thanh thao.
Sông Lể-công, chổ cù lao, Miễu quan Chưởng-lể thuở nào lưu lai.
Đồng-nai cũng có miễu ngài, Nam-vang Châu-đốc lại hai chỗ thờ.
Coi ra hiển hích bây giờ, Cù lao Ông-Chưởng tư cơ đứng đầu;
Nguyễn-hữu-Cảnh Lể-thành-hầu, Sắc phong thượng đảnh thần đâu ví tày.
Nhớ ơn khai quốc nặn dày, Vua ban tiền bạc dựng gầy miễu cơ.
Xóm làng bồi bổ đến giờ, Thần linh bão hộ cỏi bờ vững an.
Thường niên tế tự kỉ càng, Nghi văn trần thiết đoan trang kỉnh thành.
Bể dâu mấy lúc cải canh, Công thần khai quốc quân danh đời đời.
Rẩy trồng chàm đậu khắp nơi, Ruộng nhiều giống lúa tiếng thời tham-đưng.
Rạch ngòi cá mắm làm ăn, Cá vồ với cá trèn răng ngon thường.
Khá khen các chức bổn hương, Quốc vương thủy thổ chạnh thương bồi hồi.

Nhớ xưa sự tích ngùi ngùi, Cao-hoàng tìm để chúa tôi ra vào.
Đồn quân thứ, tại Vàm-nao, Gặp cơn ly loạn xiếc bao nạn nhà.
Vàm-nao chữ đặt Hồi-hoa, Chổ nhằm mũi nước chảy qua quanh vòng.
Sông sau sông trước hai dòng, Phân ra hai ngã ngoài trong vận đào.
Các ngã gần, chảy nhặp vào, Tục kêu là xứ Vàm-nao rỏ ràng.
Vực sâu như hố như hang, Trưởng sanh cá mặp tìm tàn họa ương.
Nay tàu lên xuống đi thường, Lại thêm cồn nổi hẹp đường Vàm-nao.
Bấy lâu an ổn ba đào, Côn kình bặc dấu âm hao đến rày.
Rẩy trồng chàm mía nhặc dày, Khoai dưa bắp đậu ngó đầy nơi nơi.
Làm ăn nghề nghiệp thảnh thơi, Cả năm vừa cũng sự đời đủ tiêu.
Đốc-vàng thượng hạ dập dều, Miễu chùa nhà cữa xứ nhiều chổ linh.
Trên bờ rẩy ruộng thâu thành, Dưới sông cá mắm dinh sanh cội nền.
Cá-linh từ đó sắp lên, Bước qua mùa nắn kẹo lền bực sông.
Dầu cá-linh, lò nấu cùng, Tối thì nổi lữa theo vòng giang biên.
Vợt xúc lên bỏ nấu liền, Ghe buôn thấy cũng giãi phiền tâm trung.
Long-xuyên mùa nước ngập cùng, Tục dân buôn bán dưới sông nhà bè.
Phường dinh vô thấu nhà quê, Cất nhà sàng ở kém bề vẻn vang.
Công đường bên niếc bên phang, Lầu đài cao thắp thanh quan các tòa.
Tàu đò lục tĩnh ghé qua, Bộ hành cũng có đờn bà đờn ông.
Tàu đi Rạch-giá chực trông, Chiếc thì của khách chiếc trong hảng mình.
Dân Mên các sốc linh tinh, Ở theo có xóm ngoài minh mông đồng.
Có ông Quản-hạt-hội-đồng, Tên Trần-bá-Diệp mẩn thông tiếng đồn.
Trước làm tòa bố Thông-ngôn, Tánh hay kiến nghĩa xã thôn phục tình.
Huỳnh-đường ông Nguyễn-hà-Thanh, Vinh thăng Tri-phủ hiển danh xứ mình.
Nghĩa phương giáo huấn gia đình, Chuộng yêu đạo thánh ngâm bình phú thi.
Tuỗi đà bảy chục chưa suy, Cũng là phải mặt tu mi lảo thành.
Làng Mỷ-thạnh Ngô-văn-Sanh, Gốc nhà nhơn đức lịch thanh phú hào.
Làm Hiệp-quản, thuở Cựu-trào, Sau làm Tỗng-việc Tân-trào có danh.
Vợ chồng tánh ở hiền lành, Lúa tiền thường giúp dân tình làm ăn.
Trời cho nhờ hưởng phước phần, Ông bà khi thác tuỗi chừng tám mươi.
Sanh con cháu thảy nên người, Hội-đồng Cai-tỗng rạng ngời khôi tiên.
Đời Gia-Long, thập thất niên, Ông Bảo-hộ-Thoại phụng truyền chĩ sai.
Đào kinh Lạc-dục rất dài, Ngang qua Núi-sặp trong ngoài giao thông.
Rồi vừa một tháng nhơn công, Giáp vô Rạch-giá thương nông đều nhờ.
Huờn thành hạng đạo tư cơ, Họa đồ với sớ chung tờ tâu dưng.
Vua khen công khó nhọc nhằn, Cho tên Nùi-sặp kêu rằng Thoại-sơn.
Vinh như Ông-Thoại chi hơn, Danh tiếng không sờn nơi miệng người ta.
Trào Minh-Mạng năm thứ ba, Thoại-hầu xuất của cất ra miễu thần.
Bên triền Núi-sặp gần gần, Dựng bia đá lớn tự trần công lao
Ngày nay xáng lại thêm đào, Càng sâu rộng nữa càng vào ra đông.
Hai bên đất trống minh mông, Bên đồng Núi-sặp bên đồng Ba-thê.
Tuy là Núi-sặp chỗ quê, Học trường điển xá đủ bề nghiêm trang.

Trên cao có cái nhà quan, Lính thường canh gát lịch sang để đời.
Khi nào thừa hứng dạo chơi, Các quan tới đó sẵng nơi nghĩ ngồi.
Ba-thê ruộng đất vô hồi, Ở xen Hớn, Thỗ tài bồi chưa sung.
Đất liền tứ hướng không không, Giáp lên Châu-đốc với đồng Kiên-giang.
Tám tỗng sáu mươi xã làng, Dân thường lạc nghiệp tục an thanh nhàn.


Rạch-Giá

Rạch-Giá Phong cảnh thi:

Vui tình hứng cảnh xứ Kiên-giang,
Dâu bể đỗi dời khéo sữa sang.
Chánh-bố-đường, lầu đài tráng lệ,
Vỉnh-thanh-vân phố xá nghiêm trang.
Chôn bùn ngọn bút ngời màu chử,
Giằm các trành gươm lố cốt gan.
Hòn đất hòn tre non nước tạt,
Ghe phen giúp đỡ đức Cao-hoàng.

Rạch-giá nguyên huyện Kiên-giang, Thuộc Hà-tiên tỉnh rừng hoan tư bề.
Xưa kia hiu quạnh xứ quê, Bây giờ thành phố chỉnh tề sữa sang.
Bố đường cao rộng nghiêm trang, Ngó ra kề biển thanh quan đẹp tình.
Nhà chợ một nóc thinh thinh, Cầu đường sạch sẻ châu thành vẻn vang.
Vỉnh-thanh-vân xã một làng, Chánh thôn sở tại kĩ cang đâu bằng.
Nhờ quan chánh-bố La-Răng, Qui mô sắp đặt bỗn căng vững vàng.
Hớn Thổ sáu mươi chín làng, Mà bề lịch tốt là làng Thanh-vân.
An-nam không có đình thần, Theo Mên theo Khách lo phần cúng chung.
Bởi vì người ở mới đông, Lể nghi phép tắc chưa thông đủ đều.
Chùa-bà hương hỏa dập dều, Chùa-ông Bắt-đế biết nhiêu tôn sùng.
Chùa-ông-bổn, với Chùa-ông, Các chùa phật Thổ các giồng xanh quanh.
Vỉnh-thanh-vân, cảnh đẹp xinh, Bởi Trần-chánh-Chiếu công trình sữa sang.
Bốn năm làm xã gian nan, Gốc nguyên chức trước đứng bàn thông-ngôn.
Tánh người lanh lợi khéo khôn, Xuất thân trợ sự nội thôn châu thành.
Mở mang sắp đặt cải canh, Phố phường chợ búa phân minh tư bề.
Đâu đâu thảy có luật lề, Dân du lính tập chẳng hề dám ngang.
Sổ thâu sổ xuất kỉ càng, Nhà dân số hiệu rỏ ràng không sai.
Vinh thăng Tri-phủ văn dai, Quốc gia ân hậu lâu dài hiển vinh.

Nối làm chủ-bút nhựt trình, Với ông Huyện-Trụ kinh dinh sắp bày.
Phò trì phong hóa rất hay, Gọi là Nông-cổ tháng ngày công lao.
Thánh hiền tào phách bì mao, Còn trong đạo vị chút nào cũng may.
Kiếm tìm sự tích xưa nay, Chuyện chi hữu ích in rày để coi.
Tay cầm ban quản một ngòi, Nôm na dấu để gương soi đành rành.
Người xưa khoa-mục học hành, Ông Tuần-phủ-Đạt Triều-đình chuộng yêu.
Phú thi ngâm vịnh rất nhiều, Tác thành môn đệ người đều lớn khôn.
Nay còn để dấu khương tôn, Văn chương lể nghĩa thập tồn nhị tam.
Lăm tuyền ẩn dật tự cam, Tánh thầy Nhiêu-Chánh không kham theo đời.
Mấy năm chẳng chịu dạy người, Dần dần tiêu mất hết mười phần nhu.
Càngngày kinh sữ hoan vu, Song mà phong tục tạc thù tương đôn.
Tập thành phong hóa các thôn, Ruột gan khẳn khái lưu tồn hiếu trung.
Kiên-giang ngoài biển trong đồng, Trải xem thổ sảng đồ dùng biết bao.
Cá-thu cá-cháy cá-cào, Mựt tươi khô gộc con hàu con đuông.
Cá đồng rạch trữ luôn luôn, Nghề riêng mắm-ruốt ngàn muôn bạc tiền.
Làm ăn đất tốt nước hiền, Gạo thơm trắng dẻo có liền cả năm.
Dưa-môn bán cũng tiền trăm, Mùa ong sáp mật đi thăm đầy rùng.
Sân chim thay đổi không chừng, Tại nơi Cái-lớn trong rừng lạ thay.
Hoặc là chổ đó năm nay, Lai niên chổ khác gần rầy một bên.
Giữa rừng dây choại kẹo lền, Chim bay đáp xuống hóa nên sân bằng.
Người ta khéo kiếm làm ăn, Lớp phơi lòng thịt lớp căng mở dầu.
Mà chim chẳng chịu đi đâu, Mổi năm mổi bị tróc câu một lần.
Đã hay vật dỉ dưởng dân, Dưởng mà không đủ cứu bần trợ nguy.
Nở nào giết hết tông chi, Tưởng nghề sanh lý thiếu chi mà tìm.
Lâu nay mấy chú hại chim, Thường khi ngó thấy liêm diêm nghèo hoài.
Chiếu bong khổ vắn khổ dài, Dệt ba bốn hạng cũng tài trong tay.
Xứ Rạch-giá, các thứ cây, Tràm nhum kè giá nhẩy đầy rừng hoan.
Ruộng khai khẩn đất cả ngàn, Ruộng đâu kinh đó sẳng sàng người ta.
Cái-bé, Cái-lớn, thẳng qua, Dân cư theo xóm đều là nghiệp nông.
Ngặt vì nước biễn mặn nồng, Cây trái khó trồng người ở chưa đông.
Xáng đào kinh rạch đều thông, Ngày sau đây cũng thạnh sung như thường.
Thổ-châu là xóm hiền lương, Tục kêu Hòn-đất nhiều vườn trồng tiêu.
Cà ràng trách trã quá nhiều, Làm rồi đốt trấu hằm đều đem ra.
Không như đất sét của ta, Đất coi xốp bở làm đà quá mau.
Bán cùng thiên-hạ đâu đâu, Dân nhờ huê lợi bền lâu xây dùng.
Thuở Cao-hoàng-đế Gia-Long, Lắm khi trú tất ruổi dung lánh nàn.
Sử xanh còn chép rở ràng, Ngọn rau tấc đất thấy càng cảm thâm.
Hòn-tre hình tợ rùa nằm, Quan tây mới khẩn mấy năm lập vườn.
Cũng là khôn khéo lo lường, Hao công tốn của lập đường về sau.
Nay đà cây trái tốt mầu, Dần dần hoa lợi góp thâu đặng nhờ.
Thon von giữa biển cỗi bờ, Siêng thời gầy dựng tư cơ chỉnh tề.
Tốt thay phong cảnh Hòn-tre, Kiên-giang ngoại án xa che diện tiền.

Có cái hang, ở tả biên, Rộng hơn mười trượng miệng viên hẹp hòi.
Đứng ngoài nhắm nhía mà coi, Có một cái mái hẳng hòi quá to.
Cớ sao đem lọt nó vô, Chẳng hay khi trước lớp mô để đời.
Sốc Mên xóm ở các nơi, Dân đều nghề nghiệp thảnh thơi trong nhà.
Chùa Mên thờ phật các tòa, Lể nghi tập tục như là Trà-vinh.
Trời cho đất nước hiền lành, Trên bờ dưới biển dinh sanh dể dàng.
Nhà giàu tiền của muôn vàng, Nhà nghèo cũng đủ rảnh rang không cầu.
Mé ngoài giáp đến Cà-mau, Mé trong giáp đến địa đầu Hà-tiên.
Phía Tây giáp lại Long-xuyên, Cả trong toàn hạt ruộng liền với kinh.
Học trường sỉ tữ linh tinh, Một trường Rạch-giá châu-thành thạnh sung.
Bởi thầy Đốc-Thiện có công, Sớm khuya dạy dỗ đồng mông tấc tình.
Có con gái, biết học hành, Dạy nơi trường gái cũng vinh phận nhàn.
Người trong son phấn điểm trang, Nhờ cha dạy dổ danh sang mỷ miều.
Sách đèn gắn sức mơi chiều, Văn phòng tứ bữu thiệt nhiều thú xinh.
Kiên-giang Huyện nhỏ có danh, Ở theo mé biển đất bình rộng thinh.
Diện tiền hải thủy minh minh, Bải cồn bốn phía ghe khinh bị chìm.
Thường khi buôn bán trong Xiêm, Trời thanh biển lặng thuận êm khá lời.
Tàu Hải-nam thường tới chơi, Chở đồ tạp hóa tạnh trời năn qua.
Thứ-năm, Thứ-sáu, Thứ-ba, Thứ-tư, Thứ-nhứt, với là Thứ-hai.
Bảy, Tám, Chín, Mười, quá dài, Tên mười cữa biển đi hoài vòng nong.
Nhà dân rải rát cũng đông, Giáp Bạc-liêu hạt minh mông biển rừng.
Phía bên Rạch-giá có phần, Phía Cà-mau phủ có chừng hạng ranh.
Ngày nay lúa ruộng thâu thành, Cần-thơ thứ nhứt nhị đành Kiên-giang.
Bấy năm khai phá đất hoan, Đào kinh mở rạch ngỗn ngang tư bề.
Nên ra đất tốt ê hề, Đất đâu lúa đó phủ phê nhẫy tràng.
Mấy ông hào hộ lắm trang, Ăn chơi gan ruột giàu càng lịch thanh.


Hà-Tiên

Hà-tiên phong cảnh thi:

Hà-tiên non nước cảnh vui tình,
Thập vịnh hiền xưa đã tạc danh.
Đảnh-pháo-đài, đăng quang chiếu diện,
Mạt-tiên-công, miễu vỏ anh linh.

Am chùa hang động nhiều nơi cổ,
Thơ phú rượu đờn lắm kẻ thanh.
Nhớ thuở Cao-hoàng hưng đế nghiệp,
Bầy xà cứu giá giữa dòng xanh.

Hà-tiên phong cảnh lịch thanh, Nguyên xưa Mạt-Cữu riêng mình phụ dung.
Tục kêu là Mạc-tiên-công, Gốc vì để tóc một lòng thờ Minh.
Cam bề chẳng ở đất Thanh, Huề gia khiết quyến tách mình trùng dương.
Qua Hà-tiên, lập phong cương, Câu liên trước cữa người thường đọc vang.

自 家 膚 髮 完 忠 孝
浮 海 波 濤 外 死 生

Hiếu-vương chúa Nguyễn sắc ban, Phong Tổng binh chức một phương chuyên quyền.
Hiệu Vĩnh-thạnh Ất-vì niên, Giặc Mên đánh phá Hà-tiên không dè.
Tiên-công thoàn chạy Vủng-kè, Phu-nhơn Bùi-thị tư bề hoản kinh.
Giữa sông chuyễn bụng thình lình, Đẻ ông Thiên-Tích lòa mình hào quang.
Lồi lên một vị Phật vàng, Lớn cao dồ sộ thấy càng sợ ghê
Sáng ra xem xét tư bề, Sai quân diều dở khiêng xê vô bờ.
Công bèn tướng địa khai cơ, Lập chùa mé nước phụng thờ đến nay.
Tưởng ra điềm cũng lạ thay, Đặt tên Thiên-Tích nghĩa rày trời cho.
Dần dần sắp đặt qui mô, Làm nên sự nghiệp cơ đồ bền lâu.
Bính-Thìn Vĩnh-hựu năm sau, Cho ông Thiên-Tích tước hầu tập phong.
Mạt-hầu ăn học lắm công, Hà-tiên thập vịnh tả trong cảnh mình.
Mên thường cưu dạ bất bình, Giận vì Mạt-thị chiếm tranh biên thùy.
Tìm mưu tranh đoạt nhiều khi Ghe phen tích oán vậy thì sanh tâm.
Nắc-Vồn binh mả lai xăm, Mạt-hầu đánh phá giải dằm tuyết sương.
Đánh Mên đuỗi đã xa đường, Rượt theo bố trận đêm trường với nhau.
Phu-nhơn Nguyễn-thị kế sâu, Đem binh phụ nữ cơm âu sẳng sàng.
Cho quân thay đỗi bảo xang, Ăn no đủ sức phá tang Nắc-Vồn.
Quân Mên mất vía kinh hồn, Tự tư dỉ hậu tiếng đồn oai linh.
Đác tiền hiệu chử Thái-bình Nơi Vủng-thơm xứ đẹp tình nhơn dân.
Cao-hoàng đại mạng chơn quân, Trời xuôi gặp gở hiền thần cũng duyên.
Tây-sơn binh tướng đầy miền, Mạt-hầu cô thế ngài liền sang Xiêm.
May nhờ lân hảo một niềm, Thỉnh binh cứu viện cơ tìm ngày sau.
Bị Mên sàm nịnh gian tâu, Rằng Gia-định có Mạt-hầu mật thơ.
Mưu thâu Vọng-các cỏi bờ, Vua Xiêm bắt hết bây giờ tra minh.
Ỷ khôn đôi chối sự tình, Mạt-hầu Thiên-Tích liều mình chết oan.
Người ngay hồn xuống suối vàng, Một vùn chánh khí nhẩy tràng thương minh.

Nay còn miễu vỏ hiển linh, Mộ bi sắc tặng đành rành của vua.
Thơm tho huyết thựt bốn mùa, Người ta đều gọi rằng chùa Lịnh-công.
Trời xanh chẳng phụ hiếu trung, Dấu roi cháu chắc còn sung mối giềng.
Mạt-tử-Khâm là chắc hiền, Rừng ong phần thựt bạc tiền lửa hương
Chùa thêm tráng lệ cột rường, Bởi vì công cọng các phương của người.
Câu liên trước cữa rạng ngời, Một nhà trung nghĩa bảy đời phan ly.

一 門 忠 義 家 聲 重
七 葉 藩 翰 國 寵 荣

Tại làng Mỷ-đức oai nghi, Hậu tiền tả hửu nguy nguy miễu tòa.
Hai mươi hai hạt người ta, Biết chùa Ông-Lịnh từ xa đến gần.
Hà-tiên phong tục tế thần, Giới trai thành kính lòng cần thĩ chung.
Cổ bàn tinh khiết bề trong, Lể văn phép tắc ngoài không kiểu tình.
Cảnh chùa Thạch-động rất xinh, Cao tăng lớp trước có danh nhơn hiền.
Mấy thầy nho học Hà-tiên, Năn khi tới đó cầu tiên thường thường.
Lâm-ân phù chú cao cường, Bùa hay trấn quỉ mở trường Kỳ tiên.
Học trò có thú vui riêng, Thỉnh tiên giáng hạ đàng tiền khất thi.
Hội-đồng Hiến, Phụng-lai-Nghi, Đều là sảo biết cầm kỳ văn chương.
Châu thành phong thổ hiền lương, Cây dương trồng khắp nẻo đường gần xa.
Quan quân dinh dảy các tòa, Cất trên nổng núi xem đà đẹp xinh.
Pháo-đài nghiêm chỉnh quang minh, Vọng đăng cao vọi nơi gành Mủi-nai.
Thinh thinh nhà chợ rộng dài, Phố phường sạch sẻ trong ngoài làm ăn.
Thói dân nhựt dụng kiệm cần, Gốc xưa lể nghĩa nho văn lưu tồn.
Tô-châu, Kim-dự, tiếng đồn, Xanh quanh chơn núi hương thôn ở đầy.
Trồng tiêu làm rẩy tháng ngày, Dân nhờ huê lợi sum vầy đũ tiêu.
Hòn-chông tiêu biết bao nhiêu, Kẻ lui người tới dập dều người ta.
Nhơn dân trù mật cữa nhà, Sanh phương nghệ nghiệp trẻ già đều siêng.
Các làng chùa miểu khuôn viên, Tang hôn thù tạt theo miền thú quê.
Tàu đi Xiêm thổi xúp lê, Bộ hành chực sẳng đề huề xuống đi.
Cao-hoàng thuở ấy lắm khi, Hòn-chông Phú-quấc lưu ly ra vào.
Có hồi quân sỉ khát khao, Ăn rau đở đói miệng nào biết ngon.
Thị-Huyễn có lòng tôi con, Chở đầy ghe gạo ra hòn hiến công.
Ngày nay Phú-quốc thạnh sung, Cù-lao giữa biển dân đông vô hồi.
Huyền tinh lại với đầu mồi, Sắm ghe đi biển mắt lồi lái cao.
Long-giêng-hương, với Yến-sào, Mựt tươi mắm ruốt vẹm ngao thiếu gì.
Tục hay ăn ở phải nghì, Vãng lai thù tạt nhiều khi hết lòng.
Cây dương chẳng có ai trồng, Mọc khơi mé biển điệp trùng dinh dư.
Hòn Phú-quấc chổ kheo khư, Xứ không trộm cướp dân cư thái bình.
Nhớ xưa đương cuộc chiến chinh, Ông Nguyễn-trung-Trực tung hoành đã lâu.

Trước nơi Nhựt-tảo đốt tàu, Sau nơi Rạch-giá đánh nhầu hoản kinh.
Thương thay mấy lúc tang tành, Rồi ra Phú-quốc ẫn danh tìm tàng.
Lâm cơ túng thế phải hàng, Phép công xữ tại Kiên-giang bấy chầy.
Bại thành nào kể dở hay, Đã liều một chết ruỗi may cho rồi.
Cữa-dương sóng bỗ dập dồi, Cám người nghĩa khí gặp hồi điêu linh.
Cổ-công, Cổ-cúc, xanh quanh, Hòn-tràm giáp giái chổ ranh Xiêm là.
Đặt làm Thương-chánh một tòa, Quan quân dinh dảy cữa nhà phân minh.
Ghe buôn đến đó tạm đình, Ghé vào đóng thuế công bình rồi đi.
Tàu đò tháng đặng vài kỳ, Hãi tân một chổ phải thì thạnh sung.
Hà-tiên ít ruộng nhiều giồng, Người xài lúa gạo phải dùng các nơi.
Non nhơn nước trí thảnh thơi, Thơ bài ngâm vịnh thú chơi thanh nhàn.
Hải-nam tàu cũng năn sang, Bán qua mua lại hóa hàng thường xuyên.
Trường quan qui củ khuôn viên, Chữ nhu cũng có trường riêng của mình.


Châu-Đốc

Châu-đốc phong cảnh thi:

Vui xem Châu-đốc cảnh thêm xinh,
Nhớ thuở Thoại-hầu trấn Vĩnh-thanh.
Sông-trước sông-sau chia tả hữu,
Núi-sam Núi-két dấu anh linh.
Rạch ngòi giồng án không cùng lợi,
Cá mắm tầm tơ đệ nhứt danh.
May có Tú-Thường người biết học,
Ra công dạy dổ trẻ mày xanh.

Châu-đốc nguyên trấn Vỉnh-thanh, Đặt đồn Châu-đốc lủy thành vẻn vang.
Sau phân làm tĩnh An-giang, Nay Châu-đốc hạt sữa sang chỉnh tề.
Trước sông đá cẩn bực lề, Bố-đường cao rộng tư bề quan nghiêm.
Hình như tiên cảnh lặng yêm, Nhơn dân lạc nghiệp lư diêm mật trù.
Sông quanh uống khúc tợ cù. Châu-thành phố xá giai cù đoan trang.
Nhứt là ngã lộ Tây-an, Thẳng ngay rộng lớn lưởng bàn có mương.
Lâu nay thiên-hạ kêu thường, Mương sâu mương cạn theo đường phân minh.
Thường niên ngư biết mảng dinh, Dân mua thủy lợi lợi sanh trăm ngàn.
Mười tổng chín mươi chín làng, Ai ai cũng ở nhà sàng cao chưn.
Bởi mùa nước ngập không chừng, Khi to khi nhỏ đầy lưng khó dè.

Vậy nên sắm sẳng nhà bè, Trữ đồ buôn bán xuồng ghe mua thường.
Tốt thay Châu-phú thôn hương, Miểu chùa nhà việc phô trương kỉ càng.
Hềm vì một chổ tồi tàng, Miểu quan Chưởng-lể bỏ oan bấy chầy.
Ngài xưa công nặng đức dày, Mở mang bờ cỏi dẹp bầy kiến ong.
Miểu thờ vỉnh viển non sông, Cù-lao Ông Chưởng người đồng thấy nghe.
Biên-hòa một sở chỉnh tề, Bởi vì thiện tính lạc đề háo thi.
Huống chi Châu-đốc nhơn nghì, Viên quan hương chức nở gì lấp ngơ.
Chung tiền bồi đắp tư cơ, Thì phần phước ấy cũng nhờ về sau.
Tục hay háo chuyện nhương cầu, Thĩnh Thần-tiên xuống hỏi âu dữ lành.
Thổ-thần ở rạch Hộ-thành, Xóm kêu Hàng-xáo hiển linh lên thường.
Phụ cơ viết chữ chán chường, Nhiều khi ứng nghiệm tỏ tường không sai.
Nhà thờ cao lớn rộng dài, Học trường dạy dổ nuôi tài thiếu niên.
Trần-hữu-Huân, cũng sỉ hiền, Nguyên xưa làm Huyện ở miền Bạc-liêu.
Chánh lành người thảy chuộng yêu, Gia đình hiếu hữu dạy nhiều môn nhơn.
Thanh nhàn tài phú dưởng chơn, Tuy đà tử biệt còn cơn cảm tình.
Lâm-phước-Triều, người nước Thanh, Người hay gan ruột kinh dinh cơ đồ.
Lập thành đại nghiệp qui mô, Tiệm kia tiệm nọ buôn to muôn ngàn.
Tiếng đồn Châu-đốc thất sang, Kễ sao cho hết cã ngàn danh nham.
Lịch thay phong cảnh núi Sam, Mã quan Tiền-nhậm thuở làm lắm công.
Thoại-hầu tiếc rạng non sông, Còn ngôi thạch mộ người đồng gọi lăng.
Núi Sam phía bắc dưới chưn, Đấp phong mã lạp bỗn căng một nền.
Ngài xưa bão hộ Cao-mên, Ghe phen án thủ giử bền an biên.
Đào kinh Lạc-dục Long-xuyên, Giáp vô Rạch-giá bia truyền Thoại-sơn.
Đào kinh Vỉnh-tế lại hơn, Danh chồng danh vợ không sờn cã hai.
Thoại-Sơn thì đặt tên ngài, Bà là tên Tế lâu dài với sông.
Sông tên bà, núi tên ông, Thoại-Sơn Vĩnh-Tế song song miêng trường.
Cách chừng vừa một dặm đường, Có am Bà-Thợ lữa hương phụng trì.
Thầy Thông-Cang, bụng háo thi, Tháp chôn Bà-Thợ tốn khi quá ngàn.
Cang chịu bạc hơn một ngàn, Còn bao nhiêu nữa phân chang cho người.
Suối vàng Bà-Thợ ngậm cười, Thầy-Cang cũng tiếng rạng ngời muôn năm.
Thương thay người rất hảo tâm, Rũi ro nay đã qui âm số trời.
Sống sao thác vậy nhớ lời, Đem về an táng kế nơi tháp bà.
Thiện nam tín nữ gần xa, Nội Châu-đốc hạt đều là yêu thương.
Tạc làm thần chủ tỏ tường, Thờ trong am tự thường thường nghiêm trang.
Một tòa chùa phật Tây-an, Nhứt-thừa-hòa-thượng thanh nhàn tiên du.
Roi truyền y bát mấy thu, Nay còn các sãi giữ tu đến rày.
Núi-sam trên núi cao xây, Tháp đài vọi vọi ngó tày vân tiêu.
Cây reo tiếng tợ tiêu thiều, Sương mơi mát mẻ gió chiều lai rai.
Nhà lầu rộng rãi an bài, Mỗi phòng đều có cẩm lai váng ngồi.
Lính thường canh gát lau chuồi, Các loài thập vật một ngôi sẳng sàng.
Bông hoa cây trái tứ bàn, Đường quanh theo núi đi càng thung dung.
Tốn hao biết mấy nhơn công, Chi nhường phong cảnh chỗ Bồng-lai tiên.

Quan gia luôi tới liền liền, Núi Sam danh tiếng cũng miền thanh bai.
Trà-sư cho đến núi Giài, Dân cư rẩy ruộng lúa khoai đầy đường.
Đốc-công tạo lập sở vườn, Thanh hoa đẳng vật coi thường vẻn vang.
Cất bên một cái nhà bàn, Để khi ăn uống nghĩ an luận bàng.
Sau lập chợ phố hai hàng, Người đều kêu chợ Nhà-bàn thành danh.
Vui xem Núi-két cảnh xinh, La-kê Đốc-học lập thành vườn to.
Bấy lâu gầy dựng qui mô, Nay đà cây trái trời cho hưởng nhờ.
Cư dân trù mật cõi bờ, Ruộng vườn rẫy bái tư cơ trăm ngàn.
Cây dương trồng thẳng một hàng, Tại chùa Bóng-thị cảnh càng lịch thanh.
Chùa coi tinh khiết hữu tình, Mà đồ vật dụng sắm sanh quá kỳ.
Ghế giường chén dỉa thiếu chi, Mùng mền chiếu gối biết thì bao nhiêu.
Đêm khuya cúng cấp quạnh hiêu, Chùa không thờ phật bàn nhiều nghinh ngang.
Thị là bỗn chấc nam trang, Mà bề cữ chĩ giả trang nữ hình.
Tu hành bày sự trớ trinh, Gạt người lấy của kinh dinh cho mình.
Núi Đài-tốn, chỗ anh linh, Mên kêu Xoài-tón âm thinh cũng gần.
Nghề hay đồ gốm hỏa phần, Cà ràng trách trã người mần thường xuyên.
Bắp khoai mía đậu khắp miền, Phố phường nhà cữa xóm riềng nghiêm trang.
Học trường điễn xá của quan, Miễu chùa tu chĩnh lớp lang phải bề.
Tuy là một chỗ xứ quê, Trên bờ dưới nước phủ phê bĩ bàn.
Nguyên xưa đất lắm hoan nhàn, Mấy ông lớp trước mở mang rạch cồn.
Sở tại là Hưng-nhượng thôn, Thành-hoàng miễu vỏ nghiễm tôn một tòa.
Thuở chưa thiết lập quan nha, Ông Tri-huyện Ở vỏ ca đình thần.
Vỏ-văn-Vạng, tánh mẫn cần, Việc quan khuya sớm dần dần ra công.
Đào kinh tên Bọt-cơ-giông, Thấy dân nghèo khỗ lấy lòng thương dân.
Chạy tờ xin tĩnh thi ân, Quan trên cho bạc tạo tân Huyện đường.
Lại xin lập điễn báo trường, Sữa sang phong cảnh dạy hương chức làng.
Thất sơn hòn dọc hòn ngang, Nói sao cho xiết cả ngàn phong cương.
Sa nhơn trầm tốc giáng hương, Thổ nghi dược liệu thường thường có sanh.
Bông mai vàng trắng tươi xinh, Đến mùa bẻ xuống bán nhành chơi xuân.
Cát với đá, vật trong rừng, Dân nhờ huê lợi chuyễn luân xây dùng.
Vôi thì tại xứ Càng-long, Núi-sam đá tốt cát ròng trắng tinh.
Mấy cù lao ở xanh quanh, Lao-ba thứ nhứt đậu xanh dâu chàm.
Bắp dưa khoai mía siêng làm, Dân cư hai phía Bắc Nam mật trù.
Đẹp thay địa cảnh Tân-châu, Kiễm-lâm ở đó coi thâu thuế bè.
Các bè cây gỗ kiến tre, Nơi trên sông lớn thã về ghé ngang.
Kiểm-lâm xem xét kỉ càng, Nạp đăng bạc thuế rỏ ràng rồi đi.
Dinh quan Đốc-phủ oai nghi, Phần ngài cai trị vậy thì xả dân.
Nguyễn-trung-Thu, nết thận cần, Sữa nên phong tục mỷ thuần khá khen.
Kề mé sông chợ đông ken, Bán buôn đông đảo tối đèn sáng giăng.
Bờ kinh nhà cữa lăng xăng, Xóm nhà đông lắm gọi rằng Châu-giang.
Gốc xưa Ai-cập đem sang, Lớp nào không biết ở an đến rày.
Ngày nay sanh đẻ đông dầy, Nam phụ lão ấu cả bầy cả phe.

Nghề hay buôn bán dưới bè, Chở chuyên cây váng xuồng ghe bộn bàn.
Thuốc trên sông lớn Nam-vang, Mua về bán khắp lưởng giang hậu tiền.
Bán đồ gấm nhiểu thường niên, Rạch-ngòi ruộng rẩy tánh siêng làm hoài.
Đi ghe đem dỏi lưới chài, Kiếm tôm kiếm cá hôm mai đở tiền.
Nhặc nghiêm rượu thịt cữ kiêng, Trà ngon bánh tốt sắm liền để ăn.
Giữ bề cần kiệm làm căn. Bảy ngày một bữa lệ hằng nghỉ ngơi.
Coi cũng như đạo Chúa Trời, Đến ngày lể bái vui chơi thanh nhàn.
Lệ bữa nghĩ, chà Châu-giang, Đọc kinh đánh trống vái vang tại chùa.
Chùa không thờ phật thờ vua, Tư bề trống trải như chùa bỏ hoan.
Đâu đâu sạch sẻ kỉ càng, Nhắm mặt trời lạy lại càng thành tâm.
Đọc kinh Ai-cập thinh âm, Cứ ngày ba buổi lăm dăm lạy trời.
Mổi năm chừng đến tháng mười, Lệ bày đoạn thựt phép thờ quá gay.
Không ăn nhịn đói cả ngày, Nữa đêm thinh tịnh dọn rày ra ăn.
Nhịn trong một tháng thẳng băn, Gốc xưa Hồi-giáo lưu căng tới rày.
Tên Ma-cáp-Mặt cũng hay, Tổ-sư Hồi-giáo làm thầy khởi ra.
Người sanh tại xứ Mạch-gia, Làm nên sách dạy gọi là Khả-lang.
Phép đạo rằng Y-tư-lang, Lưu truyền đồ đệ muôn ngàn thạnh đông.
Tây nam các nước phục tùng, Miểu thờ Cáp-mặt tôn sùng vạn niên.
Thuở kia đội ngủ binh biền, Kêu quân chiến thắng trận liền lập công.
Đua ghe có tiếng Nam-trung, Nhẹ nhàn mạnh lẹ ruổi dung hướng tiền.
Cám thương ông Hiệp-quản-Tuyên, Người đều khen ngợi sanh tiền trung cang.
Châu-giang tục cất nhà sàng, Mái xuôi nóc dọc vẻn vang ra vào.
Chừa song cữa nhỏ trên cao, Thường khi đóng lại khích khao không dùng.
Chừng nào cữa ấy mở thông, Trong nhà con gái đã chồng an nơi.
Tánh không lảng phí ăn chơi, Gái trai cần mẩn lẻ trời tự nhiên.
Làm ăn ưa ở giang biên, Dể bề xây dụng chở chuyên gần nhà.
Vũng-bình-thiên phía trên xa, Ca-cô-ki cũng xóm Chà ở đông.
Thỗ nghi phong tục lược đồng, Coi ra đại khái như dòng Châu-giang.
Chà Ca-cô lắm thói gian, Năng đi giả mạo xưng quan xưng thầy.
Lao-táng-dù đẹp lắm thay, Tiếng lụa Bà-Tứ lâu nay danh đồn.
Thiệt thà dân ở hương thôn, Nghề trồng dưa đậu đầy cồn lịch thanh.
Cái-vừng thổ sảng rất xinh, Xứ làm tơ lụa có danh Nam-kỳ.
Dưới trên rẩy ruộng thiếu chi, Miểu chùa tế tự lể nghi tỏ tường.
Có người dự trúng khoa trường, Làm thầy nho học Tú-Thường là tên.
Mấy chục năm nay rất bền, Học trò các xứ xuống lên ra vào.
Lao-tây một chỗ cù-lao, Nhà thờ Thiên-chúa xây cao hai từng.
Bông hoa cây trái đua mừng, Tư bề ruộng khẫn kinh rừng mới khai.
Mã-trường rạch dọc mà dài, Tục kêu Ruột-ngựa còn hoài hiệu danh.
Thường niên thủy lợi thâu thành, Mua đi bán lại dinh sanh đủ dùng.
Dân nhờ lúa gạo thêm sung, Lại thêm đồ rẩy trồng cùng hương thôn.
Vàm-nao Giao-lữa các cồn, Tục dân cư xữ lưu tồn cổ phong.
Cao-hoàng thuở trước tìm long, Tây-sơn tặc đảng điệp trùng xăm lăng.

Ngang qua theo mé Ba-răng, Rạch ngòi thủy lợi giăng giăng cả đồng.
Mặt-dòn thượng hạ song song, Diện-hầu thượng hạ chử trong bộ làng.
Tục kêu hai xứ rỏ ràng, Sở trên sở dưới muôn ngàn dân đông.
Biết bao nhiêu giống cá đồng, Phái-viên các cậu mua trùm trên quan.
Rồi thì bán lại cho làng, Mấy người cầm rạch chứa chang bạc tiền.
Trà-đư Hùng-ngự các miền, Với hai sở ấy đất liền ở trong.
Sông dài nước cỏ minh mông, Cá sanh tràng nhẫy ruỗi dong rạch nò.
Lóc rô trên kết sặc vồ, Các loài cá ấy Biển-hồ khác xa.
Biễn-hồ thì tiếng cá tra, Châu-đốc vồ đém với là trèn-răng.
Điếm đàng cờ bạc lăng xăng, Thú vui đĩ thả ở giăng xóm làng.
Thầy làm thuốc dạo cũng nhàn, Đậu ghe theo chỗ tể hoàn đơn cao.
Tối thì mòng muỗi ào ào, Ở đâu quen đó biết sao mà từ.
Châu-đốc lúa gạo không dư, Nhờ sơn thủy lợi lợi cừ vạn thiên.
Sông Vĩnh-tế, vào Tịnh-biên, Dân cư theo xóm địa liên Giang-thành.
Giang-thành có miễu anh linh, Thờ ba ông lớn sự kinh lâu đời.
Xứ coi quê kịch một nơi, Mà bề tế tự cúng mời đủ nghi.
Khá khen hương chức nhơn nghì, Ngọn rau tất đất lắm khi kính thành.
Nam-kỳ biết mấy rạch kinh, Một kinh Vỉnh-tế có danh rộng dài.
Hớn Mên xen ở trong ngoài, Kheo khư sơn cước một vài chổ xinh.
Xiếc bao bờ bụi linh tinh, Vào tới Giang-thành có ngã chia hai.
Tả biên ngó thấy Pháo-đài, Bên kia phá biễn mé ngoài Hà-tiên.
Hữu biên Sốc-mẹt tới miền, Giáp lên Mên cảnh đất liền minh minh.
Dầu chai tiếng xứ Lình-quỳnh, So bề đuộm tốt Tây-ninh hơn nhiều.
Trời sanh phong thổ mỷ miều, Nước non lợi lộc biết nhiêu bạc vàng.
Bởi vì tiền hậu nhị giang, Đuôi cù lao Kết rỏ ràng phân hai.
Sông sau một ngọn lớn dài, Bên kia Châu-đốc xuống hoài vơi vơi.
Chảy về Ba-thắc các nơi, Chảy luôn ra biễn sa khơi vô chừng.
Sông trước phía bên Cái-vừng, Tàu Nam-vang tới thì ngừng Tân-châu.
Chảy về Sa-đéc Cái-tàu, Vỉnh-long xuống Mỷ có cầu nghiêm trang.
Chảy ra cữa-tiểu một đàng, Hai bên các rạch trăm ngàn linh tinh.


Sa-Đéc

Sa-đéc phong cảnh thi:

Có danh đời cựu phủ Tân-thành,
Sa-đéc vui nay cảnh thích tình.
Đèn Vỉnh-phước ngời hình nguyệt chói,
Cồn Tân-qui nổi dạng cù đoanh.

Nhà dân phố chợ nhiều nơi lịch,
Chùa phật đình thần lắm chổ xinh.
Vườn ruộng ấm no phong tục tốt,
Nhớ Cao-hoàng-đế thuở trần binh.

Sa-đéc nguyên phủ Tân-thành, Thuộc An-giang tỉnh đất bình trung châu.
Đổi dời mấy độ bể dâu, Nước nhà sắp đặt lớp sau chĩnh tề.
Đuôi cồn bồi dưỡng sa nê. Bố đường thiết lập tư bề vẻn vang.
Trường nam trường nữ của quan, Ơn trên dạy dỗ lớp lang khéo dùng,
Cầu đường bốn phía rộng thông, Phố phường đông đão bên sông phía tiền.
Vỉnh-phước Tân-phú liền liền, Trên nhà cữa chậc dưới thuyền ghe đông.
Tối thì đèn đỏ chói sông, Ngày thì buôn bán thạnh sung lạc tình.
Làng Tân-dương cảnh thần đình, Nhơn cơ nghĩa chĩ thái bình oai nghi.
Bởi trên kẻ lớn phải nghì, Là ông Cai-tổng người thì tên Cang.
Hảo tâm xướng thỉ khải đoan, Nội làng tùng phục sữa an cảnh thần.
Đã liêm cáng, lại thận cần, Phải trang tuổi tát tu thân vẹn toàn.
Con trai lớn, làm việc làng, Người con trai thứ chức sang cầm đường.
Hai bên bàn cận thôn hương, Phong thuần tục mỷ thủ thường chẳng sai.
Đình Vỉnh-phước, bực thứ hai, Với đình Tân-phú lâu dài vĩnh vi.
Cái-tàu-hạ, với Tân-qui, Tân-hưng ba cảnh đều thì hạng ba.
Đẹp thay các cảnh chùa ta, Mấy ông thầy sãi trẻ già rau tương.
Thiên-chúa lầu cát một phương, Cất ở gần đường dưới rạch Cần-thơ.
Mỗi tuần kinh sách phụng thờ, Người trong bỗn đạo tư cơ lâu dài.
Chùa ông Xã-Vạt lưu lai, Nguyên xưa ông ấy sáng khai đến chừ.
Sau Huỳnh-chơn-Giác pháp sư, Học thông nho thích ẩn cư trụ trì.
Khôn lanh chữ nghĩa ai bì, Tuổi hơn sáu chục hồn quì âm-cung.
Làng Phú-hựu Bang-biện Long, Gia tư hào hộ vẹn xong nhơn nghì.
Tánh hay tế hiễm phò nguy, Ruột gan trải đãi lắm khi giúp người.
Thung đường cao hưởng tuổi trời, Miếng ngon vật lạ thảnh thơi phụng thờ.
Cữa nhà bền vững tư cơ, Ruộng vườn sự nghiệp bây giờ dinh dư.
Người anh rể làm Hương-sư, Tên là Công-Trứ gia cư phú hào.
Vợ chồng hòa thuận ra vào, Nghĩa phương giáo tữ thiện giao hữu bằng.
Giữ gìn lương thiện làm căn, Vẹn tròn ngay thảo lòng hằng thỉ chung.
Châu-thành buôn bán thạnh sung, Tàu đò hai chiếc người đông đi thường.
Ghe đò các chợ các phương, Rước đưa đưa rước chực đường xanh quanh.
Trầu cau vườn tược tươi xinh, Cá hô gà cựa có danh Nam-kỳ.
Kẹo đậu phộng, chẳng thiếu chi, Kẹo nơi Sa-đéc bán thì tiền muôn.
Nhà dân ở, ít chổ buồn, Trong vườn ngoài ruộng luôn luôn có nhà.
Lầu quan Chánh-bố một tòa, Mấy ông liêu thuộc xem đà phải quan.
Cựu Đốc-phủ Trần-đức-Tràng, Hiền lành nhơn hậu vẹn toàn thân danh.
Nay đà hưu-trí lão thành, Hội-đồng nghị-viện phận đành dưởng yên.

Đốc-phủ-sứ Lê-quang-Hiền, Nguyên xưa quê quán ở miền Bến-tre.
Tánh ngài không siểm không khoe, Mấy năm giúp nước đồn nghe trong ngoài.
Tan bồng phĩ lấy chí trai, Khi ra Bắc cảnh cầm đài lưu thinh.
Đến khi Nam địa qui trình, Các quan liển đối tặng minh nhiều lời.
Tân-thành để lị thảnh thơi, Hai mươi năm ngợi một nơi cam đường.
Hàn-lâm kiêm-khánh chiêu chương, Bữu-tinh thưởng thọ hiển dương huân thần.
Trước sau vẹn giữ thanh cần, Tiếng thơm bay khắp từ gần đến xa.
Con trai qua nước Phan-sa, Học làm thầy thuốc đã đà nên danh.
Người là tên gọi Quang-Trinh, Y thơ các sách giảng minh nhiệm mầu.
Tữ tôn thiệu nghiệp cơ cầu, Rạng ngời phước đức làu làu trăng thu.

督撫自北圻歸时各官題贈甚多姑錄其一二以誌其事 
隨世就功名必聞必達接人以忠恕誰毀誰譽 
有聯同知府領壽昌縣進士吳春定敬書 
鏡髮双懸千里枌榆荣畫錦 
琹声遠譽一方苗黍望春膏經畧衙司属仝敬贈 
㓜而學也壯而行遭際竒緣艶品評 
驥步名馳双鳳閣牛刀政試一龍城 
蕚花爛熳同生色州里操持別有声 
永會且期相逮見髙堂喜氣溢門庭 
右詩何內督里城舖司属仝敬贈 

Thầy thông Nhượng biết chữ nhu, Yên hà vui thú một câu thanh nhàn.
Thung dung khi rượu khi đàng, Trời cho phần phước giàu sang về già.
Tân-qui sung thạnh cữa nhà, Có Hồ-văn-Lẫm phải là tên dân.
Làm ăn nổi tiếng vang rân, Ruột gan trải đải mấy lần kinh dinh.
Ruổi ro mạng vận chưa thành, Khiến ra chung cuộc thất danh hùng hào.
Mé trên sông cái vận đào, Chổ Cái-bè cạng lở vào đã lâu.
Bởi vì dọt nước hẫm sâu, Sóng to gió lớn nghịch nhau phá hoài.
Lở luôn một khúc quá dài, Quan-lớn Sen trước, mả ngài dời xa.
Đội nhờ ân hậu quốc gia, Giúp tiền cho phép sữa đà chiêu chương.
Tân-thành xứ tốt ruộng vườn, Thanh hoa đẳng vật thường thường đẹp xinh.
Cù-lao đất rộng thinh thinh, Chổ sông nước xoáy tắc quanh chảy dồn.
Hồi-Luân chữ đặt lưu tồn, Cao-hoàng thuở trước ngự đồn đóng binh.
Còn câu hát hãy đành rành, Nói luôn cho biết dân tình không ngui.
Qua sông nước xoáy ngùi ngùi, Nhớ Cao-hoàng trước chúa tôi một lòng.
Đó là sông mé phía trong, Mé ngoài tục ngữ gọi sông Mương-đào.
Sông Đất-sét, bờ quá cao, Lên Cái-tàu-thượng giáp vào Long-xuyên.
Điền viên căng bổn bạc tiền, Rẫy trồng bông trái khắp miền dưới trên.
Phía bên Long-ẩn đi lên, Thấu nơi Cao-lãnh là bên đất liền.
Trước thì kế cận giang biên, Sau thì kinh rạch liên liên vạn trùng.
Giáp qua Thập-tháp cả đồng, Lợi nhờ lúa cá để dùng dinh sanh.
Cao-lảnh xứ quê mà danh, Miễu thờ Khỗng-tữ đại thành tiên sư.
Thuở kia gầy dựng thảo lư, Chỗ còn hẹp nhỏ chưa dư bạc tiền.
Cựu trào Phủ-Đính lạc huyên, Người trong thinh khí của riêng hội tề.
Buỗi đầu không mấy phủ phê, Song le tế tự giữ bề khiếc tinh.
Quản-bộ-đạo, Phạm-văn-Khanh, Vui lòng lương thiện của mình cúng thêm.
Trùng tu miễu vỏ trang nghiêm, Sỉ phu có chỗ ngưỡng chim thánh hiền.
Nội làng cầu lộ lưởng biên, Ông Khanh bồi đắp nhọc siêng tấm lòng.
Đình thần chùa phật chùa ông, Thảy đều sữa lại ngoài trong rạng ngời.
Nghĩa binh qui tụ Tháp-mười, Ông Khanh thuở ấy giúp người đặng an.
Ơn nhờ Nhà-nước hậu ban, Cho binh cho súng bảo toàn thôn hương.
Đã lâu về chốn Diêm-đường, Dấu roi tiếng tốt hiển dương phận già.
Hòa-an, Tân-thuận, Mỷ-trà, Hai bên làng xã đều là mang ơn.
Làng Hòa-an tục lịch hơn, Quan viên chức sắc nghĩa nhơn ở đời.
Học hành còn hẫy nhiều người, Thơ bài đờn địch ăn chơi tiếng đồn.
Vàm Cái-nứa, Vĩnh-thới thôn, Có ông Cả-Thiện lưu tồn thinh danh.
Vợ chồng nhơn đức hiền lành, Giúp người nghèo khó xanh quanh xóm làng.
Các ngôi chùa miễu sữa an, Dạy con lể nghĩa lưu phan gia đình.
Sanh ra nam nữ trưởng thành, Chia cho phần thựt đành rành khuôn viên.
Lạ thay sự tích cô Hiên, Con ông Cả-Cẫn ở miền Nha-mân.
Tuỗi vừa mười sáu đương xuân, Chèo ghe rước mẹ ruỗi thân bị chìm.
Linh hồn trinh nữ lặng yêm, Thương cha mẹ yếu với em dại khờ.
Ghe phen hiển hiện sờ sờ, Giúp trong gia đạo tư cơ vững bền.

Thường khi Châu-đốc đi lên, Thuở ông Hữu-Dực trấn bên An, Hà.
Khi thời dạo xuống đường xa, Vách thành cữa hữu cây da Long-hồ.
Khi thời hiện xuống Mỷ-tho, Khi qua Chợ-lớn ra vô Chùa-bà.
Tới đâu hay cứu người ta, Thai sanh sảng nạn nhiều nhà mang ơn.
Rỏ ràng chuyện thật nguồn cơn, Cũng là tú khí dinh huờn không phai.
Diễn ca một cuốn an bài, hai mươi hai hạt trong ngoài kể ra.
Vủng-tàu Bà-rịa Biên-hòa, Qua Thủ-dầu-một lại là Tây-ninh.
Sài-gòn Gia-định thinh thinh, Chợ-lớn Châu-thành biết mấy thanh quan.
Hỏa-xa kinh quá Tân-an, Đất liền giáp với các làng Gò-công.
Bến-tre với Mỷ dân đông, Hai bên phong cảnh thạnh sung đẹp tình.
Vĩnh-long qua thấu Trà-vinh, Sốc-trăng rồi lại kế thành Bạc-liêu.
Cần-thơ thổ địa phì nhiêu, Trời cho thâu hoạch lúa nhiều vạng thiên.
Long-xuyên Rạch-giá Hà-tiên, Giáp ra Châu-đốc xuống liên Tân-thành.
Tục kêu Sa-đéc thành danh, Bỗn căng vườn ruộng tươi xinh đầy đường.
Trời đà sắp định phong cương, Bởi người ăn ở sữa đương mới mầu.
In ra hai cuốn trước sau, Vắn dài ước bảy ngàn câu đành rành.
Nay đà hai cuốn ấn hành, Xiết bao cảnh vật linh tinh xa gần.
Kể sơ chánh ngạch bộ dân, Sáu mươi dư vạng ăn mần các nơi.
Nam phụ lão ấu bộ đời, Chừng hơn ba triệu ơn trời hóa sanh.
Trải xem đại khái dân Thanh, Hơn mười ba vạng dinh sanh mẫn cần.
Ngày nay chánh trị đời tàn, Tục còn nước cựu nhơn dân lạc nhàn.
Thổ nghi phong cảnh cả ngàn, Nói sao cho hết mọi làng mọi nơi.
Làm ăn thong thã nghĩ ngơi, Khi lo mệt nhọc khi chơi bĩ bàn.
Càng ngày đông đảo lịch sang, Cội nền bão hộ thạnh an cữu trường.
Quấc âm cứ thiệt điển tường, Dở hay thêm bớt kính nhường đạt nhơn.

CHUNG

Phụ Tài-nữ Phan ngọc Anh vịnh quoc âm.

Lúc ấy Đức Thành Thái đi ngự
nam-kì nàn ấy nhơn có lời vịnh ấy.

Ngan năm gặp gỡ hội minh lương.
Thiên hạ ngày này mới mỡ mang.
Tất đất ngọn rau noi dấu củ.
Đai cơm bầu nước chực bông fường.
Vui lồng Thánh đế nơi xe ngựa
Xót dạ thờn dân chốn lửa thang.
Nước mắt anh hùng lau chẳng coó
Tang thương mấy cụt nghĩ mà thương.

Những mấy bài của anh em tặng đều biên ra sau nầy:


Tựa rằng:

Tôi nghi rằng: Người sanh trong ngàn trăm năm nhẩn trước,
Cũng văn chương mà hảng đặng đầu đuôi.
Vật để lại ngàn trăm năm về sau, Phải nghiệm suy mới tiềm ra cội rể.
Sẳng có người trí hụê, Biết mấy chổ hào hoa.
Chẳng thiếu nơi thắng cảnh sơn hà, Song nhiều bựt thời nho chí khí.
Những đều ly mị, Dã sử còn chép để coi chơi.
Các tích khôi hài, Văn nhơn cũng sắp nên câu đặc.
Kia như Khổng-an-Quấc, Nọ là Tư-mả-Thiên.
Công trước tác đa niên, Sách lưu truyền hậu thế.
Lịch đại công khanh vương đế, Cổ kim nhơn vật phong lưu.
Đã hiệp vận liền nhau, Lại phân chương có lớp.
Vẩn biết miệng ngang khó lấp, Nhưng mà đường thẳng dể đi.
Mừng ngày nay kỳ ngộ cố tri, Xảy thấy quyển Nam-kỳ phong tục.
Đã xem cùng khoản khúc, Lại đọc hết thỉ chung.
Thiệt là văn lý mạch lạt thảy quáng thông, Khen bấy diển ca tinh tường.
như sử ký.
Thiên-hạ đủ đều tự sự, Thơ trung thêm rạng nho phong.
Lộn châu mắt cá có đôi tròng, Mượn bút lông mèo làm một tự.

My-tho, làng Hòa-khánh.
Dật sỉ Nguyển-ngọc-Huỳnh kính tự.


Thơ bác cú dỉ hạ

Diễn ca mấy lúc nhọc công dòm, Một cuộc ra tài tiếng nức om.
Lượm lặt tích xưa chưn rểu rểu, Kể bày chuyện cũ mắt lom lom.
Câu dài câu vắng hàng đen hắc, Khuyên dọc khuyên ngang nét đỏ lòm.
Sách kiệp Mã-Thiên ghi chép sữ, Nam-kỳ nhơn vật trước sau gom.

Cái-bè, Tổng-đốc: Trần-bá-Thọ kĩnh tặng.

Chứa học lâu nay tuổi ướm già, Vưng làm sáu tỉnh sách nôm ta.
Đã trang phong tục riêng từ hạt, Lại sắp danh gia đủ mọi nhà.
Lượm lặc gương xưa trưng đặng rỏ, Góp thâu chuyện mới nói cho ra.
Muộn nhờ văn vận khuê tinh ứng, In để ngàn thu một bỗng ca.

Long-xuyên, Tri-phủ: Nguyển-hà-Thanh kĩnh tặng.

Sáu tỉnh nghe ra vịnh đã cùng, Từ đây thêm rạng vẻ non sông.
Xuống tay khó tặng thơ Hoàng-phủ, Trước mắt từng xem phú Thái-xung.
Không mực khá thoa rồng đỏ mủi, Có son khôn tĩa quạ đen lông.
Xưa nay có xạ thời thơm đặng, Lựa phải cầu ai dậy gió đông.

Bà-rịa, Tri-phủ: Nguyễn-hữu-Đức kĩnh tặng.

Miệng thêu lòng gấm phẫm xuê xang, Phong tục Nam-kỳ diễn vẻ vang.
Nữa vách giang sang lòa đuốt ngọc, Sáu thành cảnh vật chói lời vàng.
Châu cơ trong cuộc rành rành chữ, Tinh đẫu bên hông sắp sắp hàng.
Vạch núi thầm khen thần cự tý, So tài thước ngọc đã nên trang.

Bổn-quấc, Giáo-thọ: Trịnh-hoài-Nghĩa kĩnh tặng.

Sự tích Nam-kỳ kể vang thiên, Diển ra phong tục rất nên siêng.
Văn tươi chi kém vàng cao giá, Vận thuộc dường như chuổi xỏ liền.
Non nước ngàn trùng thâu dưới bút, Cỏi bờ muôn dặm tóm trong nghiêng.
Dở hay còn có người trên luận, Học lực thế nầy chắc gặp duyên.

Mỷ-tho, làng Dưởng-điềm: Trần-anh-Các kỉnh tặng.

Đã từng lưu lạt bước quen chơi, Thú vị giang hồ trải mọi nơi.
Chỉ vẻ nhơn tình trong sáu tỉnh, Hỏi hang phong tục chuyện đương đời.
Dĩa nghiêng mài đủ màu non nước,Ngòi bút thêu nên cuộc đất trời.
Đèn sách mười năm công chẳng phụ, Ngàn thu danh giá tiếng thơm rơi.

Mỷ-tho, làng Vỉnh-kim-đông: Đặng-hữu-Thường kỉnh tặng.

Dinh huờn đứng giữa một anh ta, Ngâm vịnh Nam-châu tiếng ngợi đà.
Tích trước ngàn năm lòng chứa gấm, Cảnh trong sáu tỉnh miệng thêu hoa
Lên dây họ Mả kiên tay thợ, Xuống bút thầy Ban chạy mặt già.
Cái nợ thơ đăng rày phỉ hẹn, Trời xanh đâu có phụ con nhà.

Nghệ-an, Du-sỉ: Hồ-xuân-Lang kỉnh tặng.

Củng cho rằng trí hay bày đặt, Lục tỉnh chuyện xưa đi lượm lặc.
Tục ngữ quen dùng đọc dể nghe, Quấc-âm khéo lựa coi không mắt.
Ngồi không nói pháo gẩm nhiều tay, Ra sức nưng xe xem ít mặt.
Đồng đạo thương nhau mới phải là, Dở hay xin chớ tiếng khoan nhặc.

Saigon: Phụng-hoàn-Sang kỉnh tặng.

Địa dư khúc diển vận du dương, Nhơn vật Nam-châu thấy chán chường.
Sáu tám giọng ca thi thể cách, Trăm ngàn câu vịnh điệu từ chương.
Thanh tân tuấn dật bì ông Lý, Cẩm tú anh ba sánh họ Vương.
Dâu biển trải bao dời đỗi cuộc, Hảy còn đồ sộ việc phong-cương.

Gò-công, dật-sỉ: Lê-quấc-Tá kĩnh tặng.

Đất thì tục người thì quê, Sáu tỉnh non sông rất bộn bề.
Cao thẳm ngàn trùng ngời mắc đuốt, Xưa nay trăm chuyện nhẹ tay đề.
Giày công đương giỏ đêm nuôi đốm, Có phận quạnh phòng lữa nhán lê.
Muôn nước đều riêng trong một thói, Người siêng đọc sách lộc ê hề.

Mỷ-tho, làng Dưởng-điềm dật-sỉ
Trần-thinh-Dự kĩnh tặng.

Tùy thời phải dụng chữ nôm-na, Phong tục Nam-kỳ khéo diển ca.
Bút ngọc vẻ vời câu sáu tám, Lời vàng trao chuốc đạo năm ba.
Sách xưa chán để gương hưng phế, Truyện mới riêng phân lẻ chánh tà.
Lòng gấm miệng thêu đà phải mặt, Ích đời ai chẳng muốn ngâm nga.

Sai-gon, thơ-ký: Nguyễn-hữu-Vang kỉnh tặng.

Khen bấy nhơn tài chẳng lẩn kiêu, Nam-châu phong tục diển nên đều.
Kinh thần mỗi vận vàng vàng thếp, Thổ phụng từ câu gấm gấm thêu.
Bờ cỏi rảo xem hay đáng mấy, Non sông thầm nhớ biết bao nhiêu.
Ngàn thu sữ sách công mường tượng, Gương để đời sau cũng tạt biêu.

Gia-định, chánh-quản: Đinh-thiều-Quan kỉnh tặng

Lục bát nôm na giọng mặng mòi, Nam-kỳ phong hóa để người coi.
Núi sông góp lại thơ ngàn lá, Bờ cỏi thêu nên bút một ngòi.
Tích trước nhờ thầy ra trí sáng, Đời sau lấy đó tạc gương soi.
Giang-hồ mà chí trên lang miểu, Nào khách cân đai cỏi ngựa voi.

Nghệ-an, Du-sỉ: Nguyễn-trung-Thanh kính tặng.

Công phu diển dịch rất nên chuyên, Cẫm tú từ câu sắp đặt liền.
Dân quấc sáu châu trang mặc giấy, Giang-sang ngàn cụm tóm lòng nghiêng.
Chép ghi Sữ-mã noi đường thẳng, Lượm lạc Kinh-lân dỏi dấu truyền.
Có xạ há trông ai dậy gió, Đôi tròng xanh trắng thích tình khuyên.

Vỉnh-long, Bình-long, Phó-tổng,

Tống-hữu-Định kĩnh tặng.

Nhả ngọc phung châu giọng nhủn nha, Nam-kỳ phong tục diển lời ca.
Nước non một giãi chia từ chổ, Nhơn vật trăm năm kể chuyện ra.
Gió phất đầu thềm xao sắt mực, Tuyết phê trên án trổ màu hoa.
Ngàn vàng khôn chuộc Tương-như phú, Tiếng để bi-chừ cỏi Việt ta.

Chợ-mới, Y-sanh: Phạm-đăng-Sơn kỉnh tặng.
Lời cảm tạ anh em

Xét phận bỉ thô, lạm nhờ xưng dự.
Nôm lục bát đặng bao nhiêu chữ, Chẳng qua là làm thữ coi chơi.
Thiếu chi tay kiến thức đương đời, Dám rằng biết diển lời kiêm cổ.
Cuộc dời đỗi an ư sở ngộ, Cỏi Nam-kỳ đồ sộ phong cương.
Ơn quấc-gia toan tính lo lường, Dư bốn chục năm trường giáo dưởng.
Tứ dân đã dinh sanh thạnh vượng, Lục tỉnh nay tọa hưởng thái bình.
Mừng bề trên giàu nước mạnh binh, Đặt một cuốn dân tình phong tục.
Nói từ khúc nghe in đứt khúc, Thẩm bao nhiêu hàm súc bấy nhiêu.
Tiện đồng nhi ngâm đọc mơi chiều, Trợ sữ bút quạnh hiêu đôi tích.
Sỉ quân tử những khi nhàn thích, Ghé mắt qua nhiều ít giãi buồn.
Giọng dốt quê cũng có sơ cuồn, Câu túng tiếu như tuồng lã chã.
Thơ đề tặng ngợi khen thái quá, Giúp thêm mùi thơm xạ càng vinh.
Cảm hậu tình tứ hãi đệ huynh, Nguyện bốn chữ tiền trình viển đại.

Nguyễn-liên-Phong kỉnh đề.


Nhà In, nhà Bán Sách và bán Xe Máy

PHÁT-TOÁN

55, 57 đường d’Ormay Saigon.

Tại nhà in nầy in đủ các thứ, như In sỗ bộ, biên-lai làng sách vở, thơ tuồng truyện, thiệp thăm, và thơ mời ăn tân gia, cùng thơ mời đám cưới, làm đủ các thứ kiễu và các thứ màu hoa hoè đẹp đẻ.

Lại cũng có làm con dấu bằng caoutchouc, bằng cây và bằng đồng.

Tiệm nầy có bán sách: như Thơ tuồng truyện chữ quốc-ngữ, và giấy mực cho học trò dùng, vân vân.

Lại có bán đủ các thứ đồ kiễu mới của các hãng lớn bên Tây, có danh tiếng chở qua; như Xe máy mới cùng đồ phụ tùng theo cuộc tiệc xe máy, vậy trong lục-châu quân-tữ có mua vật chi tiền mặt, thì tại tiệm tôi sẻ bán y giá catalogue bên tây.

có sữa xe máy và xe hơi, sữa tũ sắt, máy may, máy viết và các thứ máy đờn và máy nói, vân vân.

Có nhượm súng cũ ra như mới, và thay bá súng gãy.

Nên xin lục-châu, liệc-vị quân-tữ trước là giúp sức cho người mình làm cho nên việc, và sau nữa làm gương cho trẻ em ngày sau; nên xin liệc quới, vui lòng giúp sức thì chắc là nên cuộc đại thương và tôi lấy làm đội ơn lắm lắm.

Nay kính:

ĐINH-THÁI-SƠN

dit Phát-Toán