Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca/Cuốn thứ nhứt

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

南 圻
風 俗 人 物 演 歌

NAM-KỲ PHONG TỤC NHƠN VẬT DIỄN CA

PAR

Nguyển-liên-Phong

DINH-THAI-SƠN

Dit PHAT-TOAN ÉDITEUR

1er VOLUME — CUỐN THỨ NHỨT

Giá: 0$ 40

能說能行丁泰山今成大業 
蓮𡶶功著作 
歷四秋圓成 
未歲逢知己 
泰山始印行 
敢言新央册 
徒愧𫇰儒生 
筆紙雖柔輭 
能留萬載名 
有終有始阮蓮𡶶老得芳名 

SAIGON

Phat-Toan, Libraire-Imprimeur

55, 57, rue d’Ormay.


1909

Tựa rằng:

Năm Nhâm-dần, tháng giêng ngày vọng,
Nhơn lúc nhàn, vỏ lộng bút nghiên.
Dạo Nam-kỳ, sáu tỉnh sơn xuyên,
Xem nhơn vật, đủ miền mọi chổ.
Ơn tứ hải, đệ-huynh điều độ,
Giúp hành trình, phí lộ kim ngân.
Hơn năm dư, chép thảo lần lần,
Thành một cuốn, xa gần các hạt.
Cách đặt dùng, quấc âm lục bác,
Cọng hai mươi, hai hạt nhỏ to.
Biết bao nhiêu, công khó đắng đo,
Cứ việc thật, không trò thêm bớt.
Giọng quê kịch, nhiều lời thưa thớt,
Vận dưới trên, non nớt chưa liền.
Tự Vủng-tàu, dĩ chí Hà-tiên,
Qua Châu-đốc, xuống miền Sa-đéc.
Tới mỗi hạt, trải chơi thăm xét,
Hỏi đon ren, mới biết ngọn ngành.
Những lớp xưa, người trước có danh,
Với thổ sảng, dân tình phong tục.
Quan Giám-khảo, xem tường trong đục,
Lấy đậu rồi, mấy lúc chưa in.
Đinh-thái-Sơn, có dạ thương tin,
Chịu hao tổn, ấn hành đải hậu.
Gọi là để, khóa đồng tập ấu,
Đâu dám rằng, tú khẩu cẩm tâm.
Lẻ xưa nay, thủy bất tại thâm,
Có rồng ở, thì đầm linh hiển.
Phận già cả, tiếc vì kinh điển,
Đã bấy lâu, rừng biển minh mông.
Dẩu khen chê, miệng thế thường đồng,
Phò danh giáo, xúc công tiểu bổ.
Chẳng phải bì, Mả-Thiên Ban-Cố,
Dấu sữ xanh, kim cổ lưu truyền.
Song cũng là, cờ chím nước tiên,
Roi sự tích, niên niên trường cữu.

NAM-KỲ PHONG TỤC NHƠN VẬT DIỄN CA

Hây hây cảnh tượng trời xuân, Thái hòa vỏ trụ nhơn dân lạc tình.
Bút nghiên giỏi dấu gia đình, Diễn ca phong tục lời mình đặt ra.
Già quê giọng nói thiệt thà, Giải khuây may cũng một và trống canh.
Nam-kỳ cảnh rất lịch thanh, Đường sông dặn dịch đất hình lăng xăng.
Đông nam hai phía địa phần, Giáp ra nam hải chẳng gần chẳng xa.
Tây giáp vịnh biễn Xiêm-la, Đông bắc Bình-thuận ấy là giáp ranh.
Phía bắc cả ngàn rừng xanh, Giáp Mên với Mọi tắc quanh nẻo đường.
Vịnh Xiêm ngoài phía đông phương, Hòn-tràm có đặt sở Thương-chánh-tòa.
Chỗ là giáp cõi Xiêm-la, Quan quân dinh dảy cữa nhà vẻn van.
Cổ-rồng hòn rất khô khan, Núi giăng lúm khúm cả ngàn cây dương.
Dân nghèo bãi biễn một phương, Làm ăn nơi đó quen đường ra vô.
Hãi sâm, mắm ruốt, mực khô, Đầu mồi, sứa muối, là đồ trời sanh.
Vủng-thơm vịnh lớn minh minh, Khỏi nơi Hòn-ráng tới quanh Hòn-nần.
Ngang qua Cần-vọt địa phần, Ngoài thời Phú-quấc cũng gần đâu xa.
Một lèo qua mũi Gành-bà, Rồi liền ngó thấy cữa là Hà-tiên.
Hòn-chông Hòn-đất liền liền, Hòn-tre Hòn-ráy ấy miền Kiên-giang.
Cữa biễn ông Đốc ngó ngang, Thời thấy Hòn-chuối một hàng tâm tâm.
Hòn-khoai giữa biễn khơi nằm, Mối đường hãi đạo chỗ nhằm yếu xung.
Bấy lâu hao phí nhơn công, Tháp xây đèn vọi vừa xong mới rồi.
Mi-Sên (Michel) cần cáng vô hồi, Đốc-công mấy tháng tài bồi lực đa.
Tàu ghe tâm tối vào ra, Nhắm chừng làm chắc khỏi sa lố cồn.
Hòn-khoai là chỗ thon von, Mũi nước chãy mạnh bon bon vận đào.
Trên hòn suối chảy rao rao, Nước trong ngọt tợ mưa dào thu thiên.
Dân ra chuyên chở liền liền, Cà-mau uống nước nhờ miền Hòn-khoai.
Cữa-lớn Vàm-nho ra hoài, Gành-hàu qua khỏi mé dài Mỹ-thanh.
Ngó ra ngoài biễn minh minh, Mù mù trời nước thấy hình Côn-nôn.
Cao-hoàng thuở trước viễn bôn, Bị ngươi Nguyễn-Huệ thói chồn manh tâm.
Xãy đâu mưa gió ầm ầm, Cù phong tật khởi loạn trầm tặc châu.
Khen cho máy tạo cơ cầu, Chuyện trăm năm đã cách lâu bao giờ.
Nay còn non nước sờ sờ, Dấu xưa hãy để cỏi bờ một phương.
Ước hai muôn thước bề trường, Hoành năm ngàn thước tịch thường ngàn dân.
Lớp thời chài lưới làm ăn, Lớp thời trồng rẩy ngày lần tháng qua.
Quan quân dinh dảy mấy tòa, Ngục-đường điển xá đều là oai nghi.
Tàu đò tháng ghé hai kỳ, Xúp lê (souffler) hiệu lịnh vậy thì thỗi vang.
Nam-kỳ tù phạm hơn ngàn, Đày ra ở đó khốn nàn xiết đâu.
Xưa nay thiện ác đáo đầu, Mình làm mình chịu ai hầu chịu cho.
Nhìn xem hình ảnh đơn cô, Vọi cao bóng thỏ bóng ô bời bời.

Nhìn xem cá nước chim trời, Xa xuôi xứ sở ngậm nguồi vợ con.
Khi sao vật lạ món ngon, Chừ sao múi cục cơm hòn thế ni.
Khi sao viển tẩu cao phi, Chừ sao ly tiết một khi dập dồn.
Minh mông kìa vực nọ cồn, Nát gan cố quấc lạnh hồn tha hương.
Nặng nề công chuyện thãm thương, Trông ra Bãi-cạnh đêm trường vọng đăng.
Năm canh trằng trọc xăng văng, Sáng rồi linh láng biển giăng chưn trời.
Làm người cẩn thận ở đời, Chớ lờn phép nước thảnh thơi hoài hoài.
Dữ giằng thì phải mang tai, Trong vòng khỗ sở kêu nài với đâu.
Khuyên cùng ai nấy lo âu, Cứ trong bỗn phận nhớ câu nhơn nghì.
Dẩu mà gặp lúc hiểm nguy, Cũng đừng đỗi dạ phi vi lằng xằng.
Thiệt thà chắc chắn làm ăn, Hết cơn bĩ cực tới chừng thới lai.
Giữ gìn nghệ nghiệp sanh nhai, Xưa nay họa phước chẳng sai với mình.
Thẳng qua mấy độ thủy trình, Khỏi nơi Ba-động lại gành Băng-cung.
Ba-lai cữa sóng điệp trùng, Đại, Tiểu, cạng cùng ngoài có vọng đăng.
Đi đêm nhắm đó làm bằng, Khỏi nơi Lôi-rạp tới chừng Đồng-tranh.
Cần-giờ cữa biển có danh, Yết hầu cứ hiểm trời dành sẳng cho.
Gió xuôi buờm thả cánh cò, Ra ngoài Cữa-lấp tới đò Xích-ram.
Địa đầu giáp giái phủ Hàm, Nơi Cù-mi xứ có làm trạm canh.
Sông thời bốn cái có danh, Đã sâu mà rộng và xanh trong thường.
Phía Đông ba tĩnh các đường, Sông đường Vàm-cỏ sông đường Đồng-nai.
Phía tây ba tỉnh rộng dài, Hai ngả trong ngoài Tiền, Hậu, nhị giang.
Vàm-cỏ nguồn ở Mên mang, Chia làm đôi dải dọc ngang rỏ ràng.
Một dải Tây-ninh, Trảng-bàn, Kêu sông Bến-lức Thuận-an ấy là.
Một giải kêu sông Hưng-hòa, Vủng-gù vậy mà qua thấu Bắc-chiên.
Gội nhuần hai ngọn dòng quyên, Chảy xuống Lôi-rạp thông liên mọi đàng.
Đồng-nai nguồn Mọi cao sang, Chảy xuống hai hàng, hàng Đại, hàng Sâm.
Kề bên có miễu lâu năm, Tên miễu Thượng-đẳng u thâm linh kỳ.
Nghề rừng những kẻ ra đi, Xuống lên vái cúng đều thì sợ ghê.
Đường-sứ chảy xuống một bề, Hiệp với Nhà-bè sông gọi Phước-long.
Nhập với Tân-bình một sông, Tân-bình nguồn gốc trên giồng Mên hoan.
Chảy xuống các ngả nhẫy tràng, Cái-cùng, Dầu-một với đàng Lái-thiêu.
Thủ-đức, Đồng-cháy, nhẩy đều, Lên xuống dập đều đông đảo tàu ghe.
Hiệp với Đồng-nai, Nhà-bè, Chảy ra Cần-hải một bề phăng phăng.
Sông-sau, Sông-trước nguồn căng, Gốctrên Lèo-thượng sông rằngCửu-long.
Tiếng Mên kêu chử Mê-công (Mékong), Bên núi Tây-tạng chảy rông sang Mường.
Chảy xuống Nam-vang một đường, Chìa làm ba ngả nước thường ra vô.
Một ngả vào thấu Biển-hồ, Dân nhờ mùa hạng cá khô muôn vàng.
Một ngả kêu là Hậu-giang, Chảy về Châu-đốc nẻo đàng liêng liêng.
Luôn xuống Vàm-tấn, Ba-xuyên, Phân ra các dải lưởng biên bộn bàn.
Một ngả kêu là Tiền-giang, Cái-vừng chảy xuống liền sang Long-hồ.
Rồi liền luôn xuống Mỷ-tho, Chảy luôn ra biển quanh co rạch ngòi.
Biết bao xuống vịnh lên doi, Đường chuyên ngả chở hẳn hòi dể duôi.

Thạnh suy tiêu trưởng mấy hồi, Nơi bằng nơi lở chổ bồi chổ chinh.
Sơn-xuyên tú khí chung linh, Kể trong sáu tỉnh chổ danh hảy nhiều.
Thổ nghi tập tục biết nhiêu, Nói sơ đại lược ít đều ra sau.
Đổi thay mấy độ biển dâu, Gẩm cơ tạo hóa nhiệm mầu chỉnh ghê.
Minh-vương chúa Nguyễn trào Lê, Đất Mên chiếm cứ đem về bản thơ.
Lần lần thâu choán cỏi bờ, Nam-kỳ sáu tỉnh thành cơ nghiệp mình.
Lòng dân chánh nước chưa bình, Trời xuôi Đại-pháp điều đình phong cương.
Kinh dinh bốn chục năm trường, Tỉnh, thành, phủ, huyện, đo lường chia ra.
Hai mươi hai hạt gần xa, Cầu, đường sấp đặt công đà nhọc siêng.
Dây thép thủy bộ liền liền, Tàu đò xe lửa chở chuyên nhẩy tràng.
Càng ngày mỗi việc mở mang, Cho dân khẩn phá đất hoan muôn trùng.
Nơi nơi sầm huấc rộng thông, Cọp voi thú dử hải hùng lánh xa.
Tàu ô gành bải vô ra, Nhiểu nhương ghe cộ cũng là lắm khi.
Nghe đâu bắt đặng tức thì, Đã đôi ba chiếc trốn đi ngã nào,
Sợ oai chúng nó bôn đào, Mấy năm nay đã ba đào yến thanh.
Dưới sông bặc dấu côn kình, Trên bờ vui thú thích tình làm ăn.
Sum vầy các sắc nhơn dân, Sanh nhai nghệ nghiệp bỗn căng vững vàng.
Toàn-quyền-tổng-thống ngôi sang, Đông-dương mối việc ngỗn ngang tay dùng.
Bình-thuận thành, đến Thăng-long, Nước nhà bảo hộ ngoài trong an nhàn.
Đại-nam-việc quấc vững vàng, Vua là Thành-Thái hiệu Hoàng-đế nay.
Nguyển trào công đức nặng dày, Từ Gia-Long trước những ngày trung hưng.
Cậy nhờ sáu tỉnh binh dân, Dựng nên Đế nghiệp tân cần lưu lai.
Ấy là bờ cỏi phía ngoài, Còn vua Chơn-Lạp rộng dài phía trong.
Trị vì bốn chục dư đông, Rô-Đôm (Norodom) danh hiệu chính trùng vui chơi.
Ơn nhờ bảo hộ nơi nơi, Nước Mên toàn cảnh thảnh thơi xa gần.
Tên ngoài tục gọi Hoàng-lân, Giáp-thìn ngài đã giá băng mới rồi.
Ông Hoàng-nhì nối lên ngôi, Sửa sang sắp đặt các tôi Triều-đình.
Xi xa tha (Sisatha) ấy là danh, Noi theo qui củ thái bình dấu xưa.
Nam-vang hòa thuận gió mưa, Dân đều vổ bụng sớm trưa no lòng.
Nam-kỳ thống-đốc một ông, Làm đầu sáu tỉnh thạnh long tước quyền.
Hạt nào hạt nấy đều riêng, Bên phan bên niết mối giềng sửa đương.
Sỉ, Công, Hình, Hộ, Binh, Thương, Nơi nơi phần trị phô trương phải bề.
Hội-đồng Nghị-viện chỉnh tề, Dân an bất động cổ bề chiến chinh.
Chánh-chung giàu nước mạnh binh, Cỏi Nam triệu chúng trị bình âu ca.
Ngụ lời cảm khái ngâm nga, Biết đâu nói đó lựa là thấp cao.
Nôm na lục bác tầm phào, Cứ theo chuyện thật điển vào nên câu.

Vủng-Tàu

Vủng-tàu phong cảnh thi:

Đổi dời vực biển hóa cồn dâu,
Hứng chí vui xem cảnh Vủng-tàu.
Bền chắc đồn xây gành Thạch-lại,
Vọi cao đèn chói đảnh Vân-đầu.
Bải-dừa dấu để còn danh trước,
Xanh-rắc (St-Jacques)chừ thêm vửng cuộc sau.
Đường nước Nam-kỳ khoe hiểm cứ,
Ở trên nhắm xuống mối giềng thâu.

Địa đầu tu chỉn Vủng-tàu, Trên rừng dưới biển yết hầu bổn căng.
Phan-sa thuở trước gọi rằng, Bải-dừa xứ ấy tục năng trồng dừa.
Cơ trời trải mấy nắng mưa, Mà nay gầy dựng mới vừa dể coi.
Chổ sâu chổ cạng rẻ ròi, Rỏ ràng cứ hiểm một doi Hải-phòng.
Trời sanh cảnh cũng lạ lùng, Hẹp sâu thủy khẫu quanh vòng Thùy-vân.
Đăng-đài cao vọi mấy từng, Tục kêu Đèn-điện soi gần đến xa.
Tàu ghe tâm tối lại qua, Ngó chừng nơi đó vào ra chẳng lầm.
Sóng đơm mũi nước ầm ầm, Đá dem ngăn đón êm cầm như chơi.
Hềm vì các lấp cạng đời, Tốn hao mất cả tiền tời biết nhiêu.
Trên bờ sấm sẳng huê-tiêu, Hỏa thoàn xuất nhập dắc diều đem đi.
Bảo Giác-ngư, đồn Tam-kỳ, Vòng do bát cạy bôn trì Ngưu-giang.
Huê-tiêu tổn phí muôn ngàn, Công ơn dẩn lộ đâu màng bấy nhiêu.
Đường xe mé núi quanh theo, Giữa rừng lầu các tợ đèo Bồng-lai.
Dinh quan Tổng-thống riêng ngoài, Bối sơn diện thủy tiên đài khác đâu.
Có chùa Phật đá đã lâu, Tại Thắng-tam xả giải đầu tranh pheo.
Rằm nguơn cúng tế quạnh hiêu, Nhện giăng trước án dế kêu bên đồng.
Minh minh sóng bủa điệp trùng, Tốt thay thanh tịnh một vùng sắc không.
Lại có miễu lăng Cá-ông, Kề bên nhà hội ngoài trong sum vầy.
Hàm dài chừng bốn thước tây, Hảy còn hiện tại ngày nay đễ thờ.
Thắng-nhì có giếng bao giờ, Tục kêu giếng Ngự sờ sờ còn ghi.
Ván xây bốn phía y nguy, Gần bên nước mặng thường khi ngọt hoài.
Quan dân bất luận ai ai, Chở chuyên về uống lâu dài tư niên.
Đồn quân mần nhiệm cách riêng, Nơi ngoài Gành-rái mặt tiềng thấy chi.
Mà trong ngã ngách rất kỳ, Châu mai trí súng tứ vi hẳn hòi.
Ở cao nhắm thắp dể coi, Ngư-lôi sẳng đặt mây ngòi éo le.
Lập ra dinh dảy tư bề, Xả tây cai trị coi về nội dân.
Chổ nhà vén khéo cân phân, Các cha ngoại quấc riêng phần dưởng dung.

Lịch xinh trường học thầy dòng, Sớm khuya dạy dổ ra công cần cù.
Giây thép thủy bộ cơ xu, Tóm thâu giềng mối hải hồ sơn lâm.
Chợ đông người ước đôi trăm, Phố phường rải rát mấy lăm nhà giàu.
Vật ăn cá biễn sò hàu, Tôm cua gà vịt đậu rau cũng nhiều.
Nhà dưỡng bịnh rất mỉ miều, Quan quân hứng gió người đều Phan-sa.
Nhà hàng gần đó không xa, Ô-ly-vê (Ôlivier) nghánh cất ra Vủng-tàu.
Dưới sông có bến cầu tàu, Thường khí Ngũ-quản ghe bầu ra vô.
Mỗi ngày mỗi có tàu đò, Chở bộ hành với chở đồ thiếu chi.


Bà-Rịa

Bà-Rịa phong cảnh thi:

Bà-rịa nguyên là phủ Phước-tuy.
Địa đầu giáp giái với Cù-mi,
Dinh sanh mé biễn người không ít.
Thổ sảng trên rừng vật thiếu chi,
Cầu bến Cỏ-may đường lộng lộng.
Nui am Bà-vải đá tri tri,
Khá khen phong tục không dời đổi,
Trong xóm làng còn gốc lể nghi.

Bà-rịa nguyên phủ Phước-tuy, Riêng ra một hạt từ khi tàn triều.
Ruộng mặn rộng ngọt cũng nhiều, Lợi rừng lợi biễn ngư tiều xuê xang.
Mấu gai cây ván bộn bàn, Đậu nành đậu phụng mía đàng bắp khoai.
Thuốc bắc rất nhiều vị dai, Thiên-môn, hậu-phát, nhung-nai, sâm-rừng.
Lại thêm các thú có sừng, Linh-dương, tê giác, với sừng con Dinh.
Tô-mộc, bán-hạ, nam-tinh, Chỉ-xác, ý-dỉ, huỳnh-tinh, phục-thần.
Bốn tổng phong tục kiệm cần, Còn ba tổng Mọi đều dân cuốc cày.
Làng Phước-liểu cảnh đẹp thay, Gốc xưa Bà-rịa dựng gầy tư cơ.
Mở mang rộng đất cỏi bờ, Công Bà khai sáng đến giờ kỉ cang.
Thuở Cao-hoàng-đế lánh nàn, Bà đem lương phạn chiến tràng hiến công.
Ruộng bà để lại minh mông, Tại thôn Phước-liểu ngoài trong cả làng.
Thường niên huê lợi bỉ bàn, Người đều thọ hưởng trăm ngàn đến nay.
Nhớ xưa phước đức nặng dày, Viên quan hương chức riêng xây miểu toà.
Nội làng lớn nhỏ trẻ già, No thân ấm cật ơn bà lưu lai.
Lửa hương quyết thựt lâu dài, Đình chùa xứ ấy ai ai cũng thờ.

Vửng bền nghĩa chỉ nhơn cơ, Xứ kêu Bà-rịa thuở giờ thành danh,
Hiển vinh quá nổi hiển vinh, Không con có lộc để dành vỉnh vi.
Khắp xem cát cảnh từ bi, Châu-viên thứ nhứt sơn kỳ thủy thanh.
Núi Dại-bà, chổ rất linh, Am ông Bắc-đẩu tu hành kinh niên,
Cám người có chí nhọc siêng, Hòa-thượng Đồng-đề đức hiền siêu-thăng.
Nay còn môn đệ chư tăng, Tại Phước-tuy phủ bổn căn noi dùng.
Chợ thành buôn bán thạnh sung, Hai bên phố xá người đông chậc đầy.
Long-điền làng tiếng thuở nay, Các nơi chùa miễu sữa xây nghiêm tề.
Dân cư trù mật tư bề, Sanh phương nghệ nghiệp phủ phê trong ngoài.
Nhà hội bền chắc lâu dài, Tôn ty đẳng cấp chẳng sai lệ làng.
Trên hòa dưới thuận nghiêm trang, Sum vầy hương chức bĩ bàn quan viên.
Người xưa già cả đức hiền, Là ông Cỗ-Đến sóm riềng chuộng yêu.
Làm Hiệp-quãn thuở cựu triều, Vợ chồng tích thiện mơi chiều lắm khi.
Đã đều về chốn âm ty, Dấu roi phước đức gốc vì song thân.
Con là thầy Cai-tỗng Cần, Làm tôi Nhà-nước xã dân đẹp tình.
Bởi cha với mẹ hiền lành, Nên con cháu đặng hiển vinh nhãn tiền.
Tốt thay phong-thủy Long-điền, Địa linh nhơn kiệt phát quyền phát quan.
Phát nên phủ huyện chức sang, Phát cai phó-tỗng trong làng trước sau.
Các lân các ấp đều giàu, Hôn nhơn tang tế cùng nhau lể nghi.
Tích xưa còn Dục-tượng-trì, Của hoàng Chơn-lạp tên thì Bô-Tâm.
Tứ bàng đều thảy trúc lăm, Giữa thinh thinh cạng nước cầm một ao.
Nay thời trâu ngựa ra vào, Thãnh thơi dầm tấm ngêu ngao khứ hồi.
Làng Long-thạnh cảnh cũng vui, Hai bên phố chợ cất xuôi hai hàng.
Miễu chùa tu chỉnh kỷ càng, Tục dân cúng quãy cỗ bàn lịch thanh.
Còn roi chữ nghĩa học hành, Phú thi ngâm vịnh sữ kinh tụng truyền.
Thường đêm trổi khúc quãn huyền, Thung dung nho nhã thánh hiền thói dư.
Chưng-tiên chổ núi kheo khư, Có bàn chưng nhỏ bao chừ lưu lai.
Nét in vào đá chẳng sai, Nước vàng đem thết khen ai khéo mần.
Xanh quanh những dấu thai ngân, Di truyền tích lạ tục rằng Chưng-tiên.
Trước sau thay đỗi liền liền, Ni-cô đạo nữ vui miền ẩn thân.
Bà-vãi núi gọi Nữ-tăng, Nguyên xưa có một nàng rằng họ Lê.
Thờ chồng dốc trọn một thề, Cạo đầu lên cất am kề đảnh cao.
Tu trì không dạ lảng xao, Sau thành chánh quã ai nào dám khinh.
Núi kêu Bà-vãi thành danh, Ngàn năm để tiếng tú linh cả rừng.
Châu-văn-Tiếp, Nguyễn-phước-Trưng, Hai ông hiễn hít làm thần Hắc-lăng.
Ngàn thu nhựt nguyệt thăng hằng, Dấu còn miễu vỏ bỗn căng nơi làng.
Miễu Nguyễn ngày tế kỉ càng, Hương chức ai nấy hân oan vô hồi.
Thường niên chĩnh đốn tài bồi, Lữa hương sum thạnh một ngôi vững vàng.
Miễu Châu thời bỏ tồi tàng, Xiêu lui ngã tới chẳng màng viếng thăm.
Quạnh hiêu vắn vẻ luôn năm, Nhện giăng trước các rắn nằm bên song.
Tuy không huê lợi vung trồng, Trong làng bao nở đành lòng phui pha.
Chi bằng chung cũa bá gia, Nhờ người thiện niệm may ra có tiền.

Sữa sang thần đặng chổ yên, Cũng là tiếng tốt lưu truyền không quên.
Núi-cố đường đi một bên, Chổ cao vọi vọi bước lên hẹp hòi.
Khô khan huê cỏ xơ còi, Dấu linh bồ liễu để roi đến rày.
Đờn bà thất chí đời nay, Hay lên ở đó lạt chay tu hành.
Cũng là tú khí thiên sanh, Trăm phần ví một Tây-ninh Điện-bà.
Nhơn dân phong thỗ thiệt thà, Nghề đi buôn Mọi vào ra nhọc nhằn
Lãnh dồi kêu tía Hắc-lăng, Chắc dày canh chĩ sánh bằng Kiêm-luông.
Làng Phước-hãi, lưới bạc muôn, Ở theo mé biển tuy buồn mà vui.
Buồn nghe sóng bỗ từ hồi, Vui vì đông đão tới lui chĩnh tề.
Tục kêu là xứ Lưới-rê, Đình chùa lăng miễu tư bề đẹp sung.
Lợi nhờ con cá biễn đông, Cẳng dầm nước mặng đờn ông mốt thường.
Nhiều nhà danh giá cột rường, Nhiều trang viên chức hào cường nội thôn.
Cá chán béo ngon tiếng đồn, Xứ coi quê kịch khéo khôn cũng nhiều.
Nho y đờn địch mỷ miều, Chấp gai quây nhợ dập diều ngày đêm.
Lắm khi trời biễn thuận êm, Lưới trương gặp chỗ đặng thêm thêm tiền.
Địa đầu đặt trạm Thuận-biên, Cấp quân canh giữ giáp miền Cù-mi.
Ngang lên Xuyên-mộc một khi, Có đường giây thép lưởng kỳ giao thông.
Long-kiên, Long-lập, Long-nhun, Cữa nhà chợ búa cũng sung thạnh thường.
Chợ Dinh thiết lập Bố-đường, Châu thành Phước-lễ phố phường mới đông.
Cầu đường sạch sẻ rộng thông, Nay thêm tu bỗ ngoài trong chĩnh tề.
Nhớ quan Chánh-bố Ri-vê (Rivet), Việc công cần cáng tư bề sữa sang.
Bây giờ lại có tòa quan, Lưới-rê Thị-vãi ngã đàng láng trơn.
Quan Đốc-phủ-sứ Nguyễn-Hơn, Đồng tâm hiệp lực ra ơn tài bồi.
Công dinh công sở các ngôi, Thảy đều thanh lịch đứng ngồi vẻn van.
Xe bò thuở trước nghinh ngang, Ngày nay xe ngựa coi càng đẹp xinh.
Cỏ-may mấy dặm thinh thinh, Bến tàu ghé đậu vô Dinh chở hàng.
Viên quan hương chức nội làng, Giữ gìn phép tắc nghiêm trang kĩnh nhường.
Trong làng đạo ngoại hai đường, Nhiều trang thi đậu khoa trường lập thân.
Đỗi đi các hạt xa gần, Đều là có tiếng thanh cần nết na.
Châu-thành xứ chẳng xa ba, Tục quen chấc phát thuận hòa thích trung.
Năm trước có người Vĩnh-long, Tên Nguyễn-hữu-Đức chức sung huỳnh-đường.
Quan trên khen ngợi thường thường, Khen người liêm cáng đã thương lại vì.
Ruỗi đà tiên tịch hồi qui, Anh em tri thức còn khi nhắc hoài.
Nhà thờ Thiên-chúa rộng dài, Kì hoa thoại thảo đình giai vung trồng.
Mấy ông linh-mục lắm công, Với các bà-phước sữa sung mối giềng.
Mổi tuần kinh sách giảng truyền, Cứ theo phép đạo dạy siêng năng thường.
Cách sông có xã Long-hương, Miểu chùa tế tự tỏ tường theo xưa.
Đất dày người ở coi thưa, So bề no đủ củng vừa ăn chung.
Xe bò ghe cữa quá đông, Cả trong toàn hạt sắm dùng theo quê.
Đường rừng xa cách từ bề, Xe bò ổn tiện lúc về lúc đi.
Khỏi sông thời biển bố vi, Nên làm ghe cữa dể khi ba đào.
Trời sanh ra mỗi chổ nào, Đất quê lề thói tiếng nào có không.

Nội thôn hương chức cũng đông,Nhiều ông chất phát nhiều ông nhơn nghì.
Xuân kỳ thu báo mỗi khi, Y quan lể nhạc đều thì nghiêm trang.
Viên quan chức sắc trong làng, Tôn ty đẳng cấp ghế bàn phân minh.
Củng là nhơn kiệt địa linh, Đẹp thay phong thủy núi Dinh rạng ngời.
Trong hương chức có một người, Tên Vỏ-tường-Hiện bốn muơi tuổi ngoài.
Cha đà sớm cách diêm đài, Phụng nuôi từ mẩu không sai bữa nào.
Nhớ ơn sanh dục cù lao, Mẹ ăn con lạy no nao phỉ tình.
Thường thường tụng đào-viên kinh, Dồi mài hiếu nghĩa trung trinh ở đời.
Thảo ngay khuyên chớ đổi dời, Mình nầy khôn lớn bởi người cưu mang.
Nam-kỳ cũng lắm cảnh sang, Duy Bà-rịa hạt rỏ ràng như tiên.
Trời sanh một chổ thiên nhiên, Non xanh nước bích phải miền Bồng-lai.
Nay thêm máy nước riêng ngoài, Dẩn đem nước suối có hoài cả năm.
Tốn hao cũng chẳng bao lăm, Châu thành bá tánh ngàn trăm cậy dùng.


Biên-Hòa

Biên-hòa phong cảnh thi:

Quãn hạt đường xa mấy dặm dài,
Vừa ba trạm đất tới Đồng-nai.
Thạch-nang giữa lạch thuyền kinh hãi,
Chiêu-thới bên triền khách vãn lai.
Linh cậy miễu chùa linh ngó thấy,
Lợi nhờ sỏi đá lợi bền dai.
Nhà dân xóm xóm đều trung hậu,
Thói cũ lề xưa hãy mĩa mai.

Biên-hòa tiếng gọi Đồng-nai, Tục kêu Nồng-nại giọng sai gần gần.
Cao-hoàng thâu phục Phú-xuân, Nhờ nơi Lộc-dã binh hưng hiễn tài.
Lộc-dã nghĩa là Đồng-nai, Theo đường quãn hạt dặm dài tâm tâm.
Của nhờ tài mộc sơn lâm, Đá xanh sỏi núi cả hằm cả hang.
Thường năm thường lấy muôn ngàn, Sanh sanh hóa hóa lợi càng hóa sanh.
Ra công rẩy ruộng thâu thành, Bắp khoai mía đậu để dành đũ tiêu.
Mía đường vật cũng khá nhiều, Bưởi ngon ngọt với trà tiêu mọi loài.
Cau khô thuốc súc dầu chai, Thịt rừng thời có hưu nai thường thường.
Mười tỗng đất đặng bề trường, Châu thành thiết lập quan đường nghiêm trang.
Chỉnh tề bên niết bên phan, Bực tiền cẫn đá đại giang thủy triều.

Phố phường vừa đũ không nhiều, Vật ăn cũng ít mỷ miều thanh tân.
Dân cư phong tục kiệm cần, Hể nơi trù mật là gần thị thôn.
Đường-sứ, Đồng-váng, Đồng-môn, Bến-gỗ, Bến-cá, Chợ-đồn, Chợ-dinh.
Đồng-môn, Bà-ký, rất xinh, Vườn cau mịch mịch tươi xanh cả ngàn.
Phước-lai, Phước-kiển, mấy làng, Phong thuần tục mỹ dân nhàn sanh phương.
Lắm nhà bền vững cột rường, Lắm trang chữ nghĩa văn chương học hành.
Người xưa khoa hoạn có danh, Ông Đào-trí-Phú đành rành bực sang.
Bị cang án, thuở Tiên-hoàng, Phải chăng ai tỏ ưng oan cho cùng.
Ông Hiệp-Bá tánh khiêm cung, Vợ chồng nhơn đức một lòng như nhau.
Thổ sãng thứ nhứt là cau, Cau khô xứ ấy ăn lâu đẹp tình.
Xa xuôi cách trở hãi trình, Ít khi cá biễn dùng mình cá sông.
Những đồ quã phẫm hàng bông, Với đồ lò gốm đũ dùng trong dân.
Các nơi đình miểu thôn lân, Xuân kỳ thu báo lệ thần nghiêm trang.
Quan hôn tang tế kỷ cang, Vãn lai thù tạt bĩ bàn lể nghi.
Thạch-nghê đầu giác dị kỳ, Biên-hòa tục ngữ kêu thì ông Nghê.
Lớn hơn mười trượng chĩn ghê, Nước ròng cạng thấy tư bề y nguyên.
Cù-lao-phố chỗ linh thiên, Xưa có cầu ván bắt chuyền ngang sông.
Lý-Quan người chệt xưng hùng, Đại-vương Đông-phố vẩy vùng cỏi riêng.
Lê Cảnh-Hưng thuở bát niên, Chàng bèn đốt phá cầu liền cháy tiêu.
Sự bình bất Phục tu kiều, Bến đò đưa rước mơi chiều lại qua.
Sau giặc Tây-sơn vào ra, Đóng đồn gần đó kêu ra Chợ-đồn.
Thạch-nang chỗ rất hãi hồn, Đá hàng một dảy tiếng đồn thuở nay.
Hẹp vừa lòng lạch giữa ngay, Ghe đi lên xuống người rày đều nao.
Tới mùa lạo thủy lộn đào, Chảy đứt đuôi rắn ra vào sợ ghê.
Miểu quan Chưởng-Lễ dựa kề, Lý-Ngư có lúc khuya về hiện thân.
Nhảy nhào hụp lặng lăng xăng, In như hình tới trước sân lạy mừng.
Thiệt là Thượng-đẳng-linh-thần, Công lao khai quấc xa gần tạt ghi.
Bây giờ nền mới cải di, Hãy còn nền củ vậy thì y nguyên.
Tốt thay chùa núi cảnh riêng, So bề thanh lịch là miền Bữu-phong.
Đại-giác chùa có sắc phong, Hỏa hương sum thạnh phật đồng lớn cao.
Có người đui tối tầm phào, Lên hòn Chiêu-thới ước ao trụ trì.
Tay cùi mắt chẳng thấy chi, Thiện nam tính nữ đều thì xúm lo.
Thường đem ve nước tới cho, Nữa thì người uống nữa cho bùa về.
Ví dầu bịnh hoạn ủ ê, Uống vào khỏe mạnh hơn bề sâm nhung.
Xóm làng tin cậy vào lòng, Cất cho am tự dưởng dung tu hành.
Núi Lò-gạch chỗ đá xanh, Những người nước Hẹ dinh sanh dập dều.
Trời cho hang lợi mĩ miều, Giúp dân ngoại-quấc biết nhiêu bạc tiền.
Làm ra vạn vạn thiên thiên, Bởi bàng tay trắng nhọc siêng xẳng đào.
Núi Cù-lao-rùa trên cao, Có lưởi tầm sét đời nào lưu lai.
Hình như lưởi búa không sai, Nguyên là cốt đá khen ai khéo mần.
Bến-cá vàm dưới cũng gần, Dài theo mé nước thói dân trở đường.
Bình-thạnh, Bình-ý, Thôn hương, Lò đường cát trắng thường thường biết nhiêu.

Mùa đông các lái mua nhiều, Đường chở dập dều Bến-cá đem ra.
Thiếu chi thợ ở trên nhà, Các lò đường phỗi ở mà mé sông.
Chảo lò thợ sắm sẵng dùng, Trỡ thành đường phỗi nhờ trong trứng gà.
Nguyên đường các trắng làm ra, Trở rồi cắt miếng huờn mà tiền công.
Các lái mướn trở đã xong, Bán cho các chợ đờn ông đờn bà.
Tục dân gần tết mọi nhà, Dưa hấu đường phỗi đều là sắm chưng.
Nghèo quê trong chốn rẩy rừng, Trong ba bữa tết cũng chưng thường thường.
Tân-triều chỗ Thiên-chúa đường, Thinh thinh lầu các cột rường vọi cao.
Xung quanh người đạo ở bao, Mỗi tuần kinh sách ra vào cẫn nghiêm.
Dân cư bốn phía lặng im, Thiệt thà chắc chắn giữ niềm thảo ngay.
Bề-trên dạy dỗ rất hay, Lại thêm Bà-phước sắp bày kỷ cang.
Đâu đâu tề chĩnh lớp lang, Đồng-nam đồng-nữ lịch sang mĩ miều.
Tốt thay phong cảnh Tân-triều, Bông huê cây trái vật nhiều món xinh.
Trầu cau cam bưởi quít chanh, Măng thơm chuối mít vật lành lợi dân.
Đường-sứ chỗ rất thanh tân, Chức làng trung hậu thói dân thiệt thà.
Đình thần phong cãnh diềm dà, Phố phường buôn bán thuận hòa hai bên.
Có chùa Ông-Mỏ phía trên, Ngó lên xóm Cối chùa tên cũng kỳ.
Nguyên xưa cái gốc cây chi, Đem về tĩa vẻ y nguy tượng hình.
Áo xanh bận phủ ngoài mình, Mặt lần thỏn xuống mỏ chinh chinh dài.
Thờ chung với phật Như-lai, Người đi cúng quảy hoài hoài vào ra.
Bùng-binh Đá-trắng trên xa, Thánh đường cao vọi coi đà phải nơi.
Khiết tin thờ Đức-chúa-trời, Đọc kinh xem lể thảnh thơi tư bề.
Trên ông linh-mục chĩnh tề, Dưới người trong họ no nê xa gần.
Trời sanh phong thỗ toan tân, Đủ ăn đủ bận ngày lần tháng qua.
Chẳng hề lãng phí xa ba, Tôn ty đẵng cắp phãi mà dưới trên.
Học thời chánh phụ hai bên, Trường quan trường tổng dạy nên cũng nhiều.
Sáu tổng dân Mọi liêu hiêu, Cữa nhà rãi rát bao nhiêu sang giàu.
Biên-hoà nước ngọt sông sâu, Đất pha các trắng đường cầu lịch xinh.
Hõa xa nay đã dọn thành, Xiết bao lao dật dân tình buồn vui.
Vui là luân chuyễn khứ hồi, Chia ra bốn hạng đứng ngồi cân phân.
Đốc công dầu những cấp cần, Vơi vơi dậm thẳng dần dần lẻ xong.
Chừng nào nam bắc lưu thông, Nay còn hết thảy kẻ trông người chờ.
Toàn hạt năng dụng xe tờ, Xe bò thì để bụi bờ xuông pha.
Ghe thời thường sắm rỗi nhà, Nghề đi chỡ cá vào ra rạch ngòi.
Ít nhiều con mắt từng coi, Coi rồi đánh giá hẳn hòi không sai.
Cận sơn cận thủy cũng tài, Trời sanh mỗi nghiệp một vài người hay.
Những người danh tiếng đời nay, Ông Lượng-văn-Núi nết hay gìn lòng.
Hàm Đốc-phủ-sứ gia phong, Biên-hoà quãn-hạt-hội-đồng có danh.
Ông huyện Sự xứ Long-thành, Thuộc Bình-lâm tổng hiền lành thẳng ngay.
Lảo thành chữ nghĩa são hay, Trước làm cai-tổng ngày nay huyện hàm.
Chuộng yêu-đạo học An-nam, Gia viên ẩn dậc thú cam vui vầy.

Thủ-Dầu-Một

Thủ-dầu-một phong cảnh thi:

Thủ-dầu-một cảnh rất xinh thay,
Xứ tốt gổ cây khéo thợ thầy.
Chánh-bố công đường cao mát mẻ,
Phú-cường hội quán tiếng xưa nay.
Đờn bà nghĩa khí nhiều tay lịch,
Hương chức thanh cần chử dạ ngay.
Chùa miễu anh linh phong thủy đẹp,
Thanh tươi quả phẫm ít nơi tày.

Dầu-một phong thổ tốt thay, Gốc xưa chổ thủ coi rày gổ cây.
Đổi dời qua đến đời tây, Quan quân dinh dải đặt bày nghiêm trang.
Dầu sao im ái tứ bàng, Bố-đường trên nổng lặng trang tư bề.
Sơn lâm tài mộc ê hề, Ruộng vườn đồng rẩy phủ phê dư dùng.
Trại ghe trại ván sẳng cùng, Sông sâu nước chảy điệp trùng bán buôn.
Nhà khéo cất tốn bạc muôn, Tiếng đồn thợ thủ rặp khuôn kỹ càng.
Thanh hoa đẵng vật khắp ngàn, Trái cây trà huế nhẫy tràng biết bao.
Nai hưu lắm lúc ra vào, Đở cơn săng bắn tữu hào yến tân.
Tục hay ham chuộng đạo văn, Trẻ già khẵn khái xa gần thiện lương.
Roi còn gốc trước văn chương, Ăn chơi đờn địch khiêm nhường phong lưu.
Nhiều nhà tích đức đi mưu, Nhiều tay kiến nghĩa không cưu bạc tiền.
Thường thường trọng đạo thánh hiền, Quan hôn tan tế lể liền vản lai.
Phú-cường sung túc lâu dài, Châu thành sở tại làng ai sánh tày.
Khuôn viên đàng sá thẳng ngay, Phố phường thứ lớp sắp bày lịch xinh.
Nhà chợ dài rộng thinh thinh, Bạn hàng đông đảo xanh quanh chỉnh tề.
Tuy là một chổ xứ quê, Nhơn hòa địa lợi ví kề Trường-an.
Dân đều no ấm thanh nhàn, Non nhơn nước trí bỉ bàn vui say.
Đình thần phong cảnh tốt thay, Trong Rạch-bà-lụa ngoài rày đại giang.
Nền cao cắp bước tợ than, Trung gian chánh điện nghiêm trang phụng thờ.
Đất linh im ái như tờ, Bốn mùa hoa quả khắp bờ phuơng phi.
Xuân kỳ thu báo lể nghi, Phô trương phẩm tiết đều thì nghiễm tôn.
Chiếm đầu phong thủy mấy thôn, Nguy nga đống vỏ vỉnh tồn vạng niên.
Chùa phật bền vững mối giềng, Tên chùa Hội-khánh lạt quyên cũa nhiều.
Thiện nam tính nữ dập dều, Xúm nhau bồi đấp mĩ miều ngoài trong.
Đờn bà Chợ-thũ có lòng, Kẻ đa người thiễu cũa công hội tề.

Bạc ngàn đâu đậu ê hề, Cất ra miễu vỏ phải bề lịch xinh.
Phụng thờ bà Chúa-thai-sanh, Sắp bày nghi tiết kỉnh thành nghiêm trang.
Liểu bồ tư chấc diệu dàng. Khuê-trung-nghĩa-hội danh càng rạng danh.
Các nơi thôn xả miễu đình, Qui mô tuy kém hiễn linh cũng nhiều.
Chợ đông người nhóm dập dều, Chợ-thủ nguyên trước cựu triều Bến xe.
Người nhờ đất chở trời che, Ngày nay đông đảo cảnh khoe mĩ miều.
Tốt thay phong cảnh Lái-thiêu, Bông hoa cây trái vật đều món ngon.
Cây cao trên nổng thon von, Bóng im gió mát bon bon tư bề.
Nhà-thờ Thiên-chúa chĩnh tề, Nhà-cha nhà-phước phủ phê trong ngoài.
Gội nhuần ơn chúa quản khai, Thảy người trong họ ai ai cũng nhờ.
Đồng-nam đồng-nữ trẻ thơ, Đọc kinh xem lể tư cơ sẳng sàng.
Lại thêm trường học rỏ ràng, Dạy người câm điết phép troàn nơi tay.
Khéo bày qui cũ rất hay, Bề trên công đức sánh tày tái sanh.
Điềt câm còn biết học hành, Lịch thay phong hóa đã đành làm gương.
Tân-thới có tích dị thường, ông Huỳnh-công-Nhẫn chuyện đương ràng ràng.
Xưa làm thầy pháp tiếng van, Tứ trong Bưng ở chẳng màng thân danh.
Cọp hùm thuở ấy tung hoành, Đi đêm thì sợ tai sanh bất kỳ.
Những người tâm tối ra đi, Tới Bưng xin phép vậy thì Huỳnh-công.
Nước miếng nhổ vào tay không, Ấy là phép lạ của ông cho về.
Thảy đều an ỗn không hề, Ít năm ông lại về quê đã rồi.
Người thương kẻ nhớ ngậm nguồi, Khẩn cầu nơi mả tới lui dập dều.
Vái đâu đặng đó rất nhiều, Rồi đem lể cúng biết nhiêu là người.
Hương đăng trà quả sốt tươi, Vào ra kễ xiết mấy mươi bộ hành.
Mả kề trảng các trắng tinh, Tại cầu Bưng-bố anh linh vô hồi.
Quả nhiên tú khí tài bồi, Thiên thu huyết thực nhứt đôi nhưởn tiền.
Thiệt là khả tát cữu nguyên, Sanh tiền tữ hậu phận riêng giúp đời.
Nổi ra danh giá một nơi, Phải là đứng giữa đất trời khuôn viên.
Xóm làng chung cọng bạc tiền, Chở vôi đá tới xây yên dai thành.
Hồn ông mách bảo chẳng đành, Nay còn vôi đá để xanh quanh đường.
Những nơi tư thục các trường, Hãy roi dấu trước văn chương ít nhiều.
Thầy thuốc kể biết bao nhiêu, Tứ-quân, Bại-độc, Tiêu-diêu, hốt hoài.
Thập-toàn, Bát-vị, An-thai, May thầy phước chủ thang bài như chơi.
Lâu lâu lể tỗ thiệp mời, Đòi tiền thân chủ vốn lời đủ xây.
Trường quan cách dạy chữ tây, Đã hay mẹo mực lại hay vẻ vời.
Thông minh người sẳng tánh trời, Lần qua trường lớn cập thời công danh.
Quấc gia dưởng sỉ hậu tình, Sắm ra có chỗ cho mình hiễn vinh.
Dĩa nghiên ngòi viết đua tranh, Làm nên ấu học tráng hành mới ngoan.
Mười hai tỗng trăm dư làng, Ghe nhà khéo léo lịch sang phải trò.
Xe bò, xe ngựa, tàu đò, Tứ dân nghệ nghiệp ấm no vững vàng.
Ghe đua êm ái nhẹ nhàn, Bình-nhâm, Tân-thới hai làng hậu tiên.
Làng Vĩnh-trường, suối Tham-miêng, Đất như bột trắng vò viên mịn mà.
Các nơi lò chén gần xa, Tới chở đất ấy vào ra liền liền.

Thuở xưa có mạch nước tiên, Uống hay giải cứu bịnh phiền người ta.
Đặt tên là nước Mội-bà, Cất bên cái miễu thờ bà Linh-sang.
Xã-Hợi người tánh quá ngang, Thấy làm những chuyện dị đoan cũng kỷ.
Ra tay lấp mội ấy đi, Nước tiên bặc mất còn chi mà cầu.
Làng kiện Xã-Hợi ở tù, Bỏ hoan miễu đó mịt mù đã lâu.
Lái-thiêu, Chợ-búng, Bưng-cầu, Trong ba chợ ấy trước sau đông dầm.
Chơn-thành, Hưng-định Bình-nhâm, Vẻn van nhà chợ cất nhằm chỗ cao.
Tỗng-duơn, An-phú Ông-trao, Tỗng-thu, bốn chợ phú hào biết nhiêu.
Nhà-thờ thủ rất mĩ miều, Trẻ học quấc-ngữ mơi chiều a bê.
Có tên Bá-Đãnh dòng Lê, Ngoài thời riêng đặt hiệu đề Huyện-thi.
Người đà âm cảnh từ qui, Chừ luôn nói lại vậy thì nghe chơi.
Kiếm cung lăm chống chỏi trời, Tách miền Kinh-bắc vào nơi Phú-cường
Bỗn sanh hoanh liệc phi thường, Bấy năm mưu mật tư lương luận đàm.
Hóa gia chuyện chẳng dể làm, Tiết thay xanh vạt mùi cam hơn đường.
Xưa nay thần khí đế vương, Cượng cầu thì mắc tai ương khốn cùng.
Gương cho những khách gian hùng, Thảo cha ngay chúa dè lòng kỷ cang.


Tây-Ninh

Tây-ninh phong cảnh thi:

Tây-ninh địa cãnh giáp Mên man,
Bố án hai tòa đặt đủ quan.
Miễu-cã anh linh nơi chợ Trãng,
Điện-bà hiễn hít chốn Linh-sang.
Hương đèn bông trái người năng cúng,
Cây ván dầu chai nghiệp cũng nhàn.
Làng tỗng nơi nơi còn thói cựu,
Xứ tuy rừng núi lắm khôn ngoan.

Tây-ninh đất lắm hoan nhàn, Coi ra bưng hố hầm hang tư bề.
Rẫy trồng mía, thuốc, đậu, mè, Cây bàn đương điệm bán về các nơi.
Dầu chai gỗ ván quá chời, Lúa sạ ba tháng lộc trời phì nhiêu.
Trái cây không có bao nhiêu, Mây rừng các thứ thiệt nhiều lắm thay.
Châu thành đường sá sạch ngay, Hai ty phan, niết, sắp bày nghiêm trang.
Lính tây đồn lập kỷ cang, Phố phường đông đảo dọc ngang mấy hàng.

Thái-bình, Chợ-mới, sữa sang, Hiệp-ninh, Chợ-cũ hai làng giáp ranh.
Cựu trào kêu phủ Tây-ninh, Ngày nay phong cãnh lịch xinh chĩnh tề.
Thịt rừng chợ bán ê hề, Tứ dân sanh ý các nghề đủ tiêu.
Cá tôm khí vị mĩ miều, Ao rạch ít nhiều vật dưởng người ta.
Tàu đò thường lúc vào ra, Đậu nơi Bến-kéo xe mà chỡ chuyên.
Tây-ninh mấy dặm xa miền, Mới bày xe máy đường liền chạy hay.
Điện-bà xưa những đến nay, Thiệt là một chỗ cao dày linh chung.
Dưới chưng có cảnh chùa-trung, Kề bên sẵn suối nước trong thấy trời.
Người đều tới đó nghĩ ngơi, Khiết tinh mộc dục lên nơi Điện-bà.
Trèo lên ba dốc nguy nga, Tới miễu Ông-Tà ngó thấy cây sao.
Cây sao sanh trưởng năm nào, Một vừng đồ sộ ôm vào xiết chi.
Kề bên có tháp từ bi, Rỏ ràng thiệt phải chỗ thì sơn môn.
Điện-bà đá mọc nghiễm tôn, Lài lài một mái càng khôn tạo thành.
Nam-kỳ người thảy húy danh, Cầu con cầu thuốc kĩnh thành biết bao.
Tới lui những khách phú hào, Thơ bài ngâm vịnh thắp cao dán cùng.
Trung giang suối chảy đùng đùng, Phía tiền hố thẩm lạnh lùng sợ thay.
Ước chừng năm bảy năm nay, Có cây mai trắng sanh rày phía sau.
Tốt thay bông trái các màu, Nhản lồng, trầu lá, mản cầu, xoài voi.
Sởn sơ đậu nọc bỏ vòi, Hột làm vị thuốc hẳng hòi thiệt hay.
Hang Ông-chàm có ông thầy, Tục kêu Ông-nhỏ ở rày trì tu.
Đường đi lên đảnh khi khu, Xa xa thấy dạng mù mù nhà quan.
Cất ra cũng để du nhàn, Qui mô hẹp nhỏ phòng đàng hứng chơi.
Éo le vì bởi tại nơi, Cho nên ít thuở thảnh thơi đến thường.
Linh-Sang Tiên-Thạch tỏ tường, Tên chùa mới đặt cột rường xa ba.
Của người công cọng gần xa, Phí hao thiên vạn mới là mỉ quan.
Rày thêm phong cảnh rở ràng, Bởi vì chung sức thế gian tu bồi.
Chúng tăng mấy chú làm tôi, Giữ lòng chơn thiệt coi ngôi của Bà.
Cách đó cũng không bao xa, Đường qua Đá-bạc lại là quanh co.
Y nhiên vẻ bứt họa đồ, Ngàn thu hiển hít liểu bồ phong tư.
Lục châu chim ngưởng linh từ, Thành tâm cảm cách phỉ chừ ước ao.
Có hòn Đảnh-cậu cũng cao, Kề bên chùa phật ra vào nghe chuông.
Tương rau chay lạt luôn luôn, Mấy ông thầy sãi vui buồn mà chi.
Đã đành hai chữ từ bi, Sớm khuya mật niệm Mưu-ni, Thích-già.
Suối-vàng gần đó chẳng xa, Suối-vàng tên có vàng mà vốn không.
Cái-cùn chổ núi gần sông, Có chùa hình đá năm ông rở ràng.
Trong ngoài làm những đá toàn, Trải bao binh hỏa thương tang hãy còn.
Dấu linh tạt để sông non, Mặt mày hiền hậu không mòn nét da.
Lái bè mấy chú lại qua, Ghé vô khẩn vái đều là bình an.
Rồi đem lể tạ bỉ bàn, Nhiểu sô hàng thiệt vắt tràng nơi trong.
Chổ là vắng vẻ quạnh không, Hiêu hiêu hơi gió ngoài sông lạnh lùng.
Rừng già bốn phía điệp trùng, Cọp voi thú dữ hay rông ra thường.
Phần thời hiểm trở nẻo đường, Nên trẻ điếm đường chẳng dám vào ra.

Những đồ sô nhiểu lụa là, Để đâu còn đó ai mà tham gian.
Phong thổ ít chuyện bạo tàn, Ít khi dịch khí tai nàn hại dân.
Các giồng mấy chổ cư dân, Lớn nhỏ hương chức cựu tân thiệt thà.
Thần từ miểu vỏ gần xa, Nghi văn tế lể cũng là lệ xưa.
Chữ nhu còn hãy dây dưa, Tôn ty phép tắc vừa vừa dể coi.
Cang thường luân lý dấu roi, Quan hôn tang tế tục noi theo hoài.
Nhà thờ giảng đạo hôm mai, Gội nhuần ơn Chúa chẳng sai tấm lòng.
Lái-Triều tiếng cũng phú ông, Sanh tiền thường cúng của trong thánh-đường.
Phía quan phía tổng có trường, Mấy thầy giáo tập dạy thường siêng năng.
Tây-ninh phong tục làm ăn, Nhờ trong rừng núi bổn căng bạc tiền.
Thợ rừng sanh lý rất siêng, Dầu chai, sáp mật, đi miền bên Phan.
Xứ thời không mấy giàu sang, Thiệt thà bền chắc dân an nghiệp nhàn.
Lịch thay phong cảnh Trảng-bàn, Lợi nhờ rẩy thuốc bạn hàng quá đông.
Tên ông Tề người biết cùng, Thuốc ngon trử bán đồn trong xóm làng.
Nhơn dân đông đảo an nhàn, Có ngôi giếng-mạch rỏ ràng ngọt thanh.
Tự nhiên một chổ thiên thành, Cạng mà mạch tốt nước sanh đời đời.
Xanh quanh nội chợ các nơi, Người ta ăn uống thảnh thơi lạc tình.
Thiện nam tính nử lòng thành, Chung tiền sửa đắp lịch xinh một tòa.
Chánh trung hương hỏa thờ Bà, Ngoài hai hộc nước xây ra có ngằn.
Xóm riềng kẻ tắm người ăn, Lớp lui lớp tới lăng xăng chặc đường.
Nước đâu trong mạch thường thường, Chảy ra hai hộc ngày trường dinh dư.
Gần xa bốn phía thôn khư, Uống ăn khoẻ mạnh dân cư cậy nhờ.
Giữa chợ có làm miểu thờ, Thờ ông cả Trước đến giờ linh thiên.
Phố mười chín căng phía tiền, Phía sau mười chín khuôn viên kỷ càng.
Thuở xưa gầy dựng Trảng-bàn, Bởi ông cả Trước gian-nang nhiều bề.
Nay thành một chỗ chỉnh tề, Đình chùa phố xá phủ phê trong ngoài.
Công ơn người thảy cảm hoài, Chung nhau lập miểu thờ ngài thuở nay.
Mỗi năm kị lạp đến ngày, Nghi văn phẩm tiết đặt bày khiết tinh.
Tứ bàn tổng xả xanh quanh, Cử kêu tên Trước kỉnh thành không sai.
Tiền-hiền sự nghiệp lâu dài, Như ông cả Trước nào ai dám bì.
Tại làng Gia-lộc vỉnh vi, Tỗng Hàm-ninh-hạ nguy nguy miểu đường.
Mả ngài tế tảo thường thường, Bùng-binh, Bến-súc, là đường mộ cơ.
Ở trong đất nước cỏi bờ, Khá khen hương chức chẳng ngơ tấm lòng.
Thủy nguyên mộc bổn thỉ chung, Biển dâu dời đổi cũng không phụ phàn.
Thương vì kinh sử cửu oan, Mà gương trung hậu lại càng tỏ soi.
Phong thuần tục mỷ dể coi, Trăm ngàn thu dưới dấu roi cang thường.
Nhiều tay nhà cữa cột rường, Nhiều tay danh tiếng hào cường xả thôn.
Nhiều tay sang trọng quyền môn, Nhơn cơ nghỉa chĩ bảo tồn cổ phong.
Tây-ninh đất núi minh mông, Lợi nhờ thỗ sảng điệp trùng ván cây.
Nhơn dân ăn chắc mặt dày, Thờ thần chuộng phật lòng hay kỉnh thành.
Hềm vì tăng chúng gian manh, Tham tâm trục lợi mong sanh thói tà.
Kiết-ma-thoại, chùa Điện-bà,
Đương kiêm hiện tại thật là vô lương.

Gia-Định

Gia-Định phong cảnh thi:

Gia-định thành xưa trọng một phương,
Nhớ Cao-hoàng-đế thuở hưng vương.
Mã ông Đa-Lộc bền rường cột,
Miểu Tả-quân-Lê thạnh lữa hương.
Dâu biển trải bao dời đổi cuộc,
Ngựa xe vòng lớn thả dầm đường.
Xóm làng phong tục đều trung hậu,
Tiếng tốt ngàn thu hảy tạc gương.

Gia-định là đất hưng vương, Cao-Hoàng phục-quấc phong cương sắp bày.
Thành xây tám cữa rộng dày, Quan quân dân thứ đông dầy ngoài trong.
Thuở kia lục-tỉnh nam-trung, Kêu người Gia-định tiếng dùng đã lâu.
Tân-trào cai trị lớp sau, Đổi thay kêu gọi đâu đâu cũng đà.
Hạt Bà-chiểu làng Bình-hòa, Kêu rằng Gia-định vậy mà đến nay.
Ông Lê-văn-Duyệt rất hay, Phan-an tọa trấn sữa xây kim thành.
Ngài là tú khí chung linh, Xuất thân Thái-giám tài danh phi thường.
Phó thang đạo hỏa chiến trường, Dư trăm trận đánh trãi đường binh nhung.
Giải dầu biết mấy lao công, Phò an chơn mạng Gia-Long thái bình.
Khi ra Kinh-lược Nghệ, Thanh, Vổ quân cừ thủ tặc danh ra đầu.
Thương Khôi trí nhiệm sức mầu, Xin vua xã tội uổng âu tài lành.
Khôi theo Lê-công qui trình, Khỏi nơi Quãn-nghĩa tới thành Qui-nhơn.
Ghé vào Tháp-cánh-tiên-sơn, Thăm ông Vỏ-Tánh nguồn cơn một hồi.
Cám xưa sự tích ngậm nguồi, Dạy Khôi kíp vịnh một bài thất ngôn.

Khôi vưng lịnh Quan lớn làm bài thơ:

Coi bài thơ phía sau:

KINH QUÁ QUI-NHƠN CỰU THÀNH HỬU CẢM

經過歸仁故城 
帝王事業幾辰淪 
一壘風霜歷曉昏 
歌管楼䑓禾秬隴 
縉紳亭阮柘桑村 
古墟零落英雄魄 
𫇰塚凄凉戰士魂 
多少繁华雲共去 
惟餘仙㙮老乾坤 
黎魁奉作 

Thơ rồi dưng trước trướng môn, Lê-công khen ngợi khéo khôn lược đồng.
Trảo nha huy hạ rất đông, Khôi thường hầu dựa trướng trung luận đàm.
Nhâm-thìn Minh-Mạng thập tam, Lê-công bịnh cố noi Nam-trấn thành.
Xuân-Nguyên bố chánh Định-thành, Ghét người lương đống tệ tình bày ra.
Đòi lủ Khôi tới hỏi tra, Duyệt kia Duyệt nọ quở la vang rền.
Khôi liền tức giận nổi lên, Xót tình chủ tớ hóa nên tang tành.
Nhóm quân tù phạm lấy thành, Ba năm chiếm cứ tung hoành một nơi.
Ơn vua phép nước tày trời, Ngởi thầy tình tớ lưng vơi khôn tròn.
Làm trai đứng giữa sông non, Ruổi lâm nghịch cảnh mất còn kể chi.
Người nơi chín suối trọn nghì, Ta mang tiếng ngụy cũng thì lòng cam.
Sóng kình xao dợn biễn Nam, Đánh liều sức mọn mà đam tự cường.
Chuyện đà cách mấy năm trường, Sang hà đồ sộ tang thương đổi dời.
Thạnh suy đã cách cuộc đời, Lê-công trung liệc gan phơi đến giờ.
Nay còn mã với nhà thờ, Tục kêu lăng miểu cỏi bờ khuôn viên.
Ơn nhờ nhà nước ban tiền, Tu bồi miểu mộ phía tiền sắc song.
Ông Huỳnh-cao-Khải có lòng, Cúng làm một chổ Lê-công bia đình.
Thật là trọng nghĩa hậu tình, Tốn hao đồng bạc ước đành bảy trăm.
Há rằng công cán bao lăm, Mà nên dấu tốt muôn năm tỏ tường.
Người Phiên-ấp, tên Mộng-Dương, Nam-kỳ kính quá vào chường miểu môn.
Đề bài thi, hảy lưu tồn, Lược xem văn ý khéo thôn diệu hòa.

Coi bài thơ phía sau:

事有不相関而情為之注焉者懿好之自然也境有不及知而神為之格焉者 
正氣之浩然也余於左軍黎公深有感焉甲午之春貴大法國總統東 
洋全權大臣羅大憲奉命囬國余送行節駐嘉定嘉定為 
本朝能興之地自属貴大法管轄三十有餘年矣舟車所至風會一新𪴰 
尋𫇰跡幾於不可辨𧥾而公之庙墓保然独存基址森嚴香煙苾欎質 
之居民曰貴大法念公功增鉄四周於墓旁以表之也意異哉公之勳名彪 
炳在六州開柘之初迄今歲月遠遥桑滄改換而風声猶在爼豆不祧于此見 
貴國仁厚存心故於有功者雖隔世異事猶想慕其功而崇重之也公字文悅 
其先廣義人徙足祥年十七慨然有大志従我 
高皇帝於嘉定戦功甚偉大定後膺茅上權節鉞處置暹臘經略清乂两平悪 
蛮一誅僧渠所至皆懾服前後鎮嘉定幾二十年其遺愛态深以久公卽沒精 

英蟠結江山阿護天陰夜靜墓上辰聞人馬声六州敬之謂其祠曰庙墓曰陵 
相與尸祝享祀弗替夫吳雄奮身立業於雷雨草味之辰存荣其名汲壽其 
名即世局变遷之後而流風餘烈尚赫赫然在人耳目如此者未易多得也余 
久叩英風幸今獲覩其狀因以知貴國之於本國禮俗無变信義有孚 
將來昇平大局有可磪然據為寔跡者是則余之所深意也乃請於 
貴全權大臣紗大憲以碑而誌之大臣欣然従之爰勒諸石以垂不刊 
公夫人杜氏後公而沒今合祀焉潘公乐谿經略南圻人思其功亦以配享 
于公庙云旹於 
皇朝成泰陆年七月初一日 
輔政大臣太子少保武顯殿大學士欽差北圻經略大使黃高啟恭題 

番邑夢楊道人題 
九重承使出南邦旌節輝煌渡楚江 
細讀殘碑功在目獨留古墓恨塡腔 
鴻恩萬戶沽應徧香火千秋祀不降 
到此漫言宮裏事恐橑遺憾淚成双 
後學阮蓮𡶶奉和 
生死英名桭越邦翹䀡梅嶺與牛江 
中興偉績垂千載大塊精忠滿一腔 
此日有靈延祀典當年何愧納亡降 
平和庙墓森嚴在應與朱文武性双 

Cách vừa một đổi xa xa, Có lăng cha-cã tên là Vê-Rô.
Sang Nam dạo khắp hải hồ, Dạy người học đạo lộ đồ tân toan.
Ghe phen giúp đức Cao-Hoàng, chiệu lời ký thát băng ngàn Đại-tây.
Mấy năm ơn nặng ngởi dày, Phò Đồng-cung Cảnh lòng ngay rạng lòa.
Nay còn lư mộ một toà, Tục kêu lăng Cả trải đà mấy đông.
Hiện tồn bia chí tặng phong, Thái-tử-thái-phó, Quận-công, rỏ ràng.
Cỏ cây im ái tứ bàng, Lăng Cha-cả với gian sang vững bền.
Trời cao vọi vọi ở trên, Đức-Thầy linh sảng chầu bên Thiên-Đường.

Coi bài thơ phía sau:

MỘ BIA CỦA ĐỨC GIA-LONG TRUY TẶNG CHO ĐỨC THẦY:

師大法人悲柔氏号伯多祿少奉道教而中國聖賢書籍靡不 
講究迨壯年來我國辰國內多故師為國之賔措所學于所行相與 
周旋於㒹沛流離之際卽又膺重托出楥師來往間闗不遺餘力二 
十餘載賛畫戎籌㕘栽鎮務諸其興建顯設皆足以傳之後我國駸 
駸乎有中興之師之力為多己未従征歸仁府秋九月十二日以正終于 
施耐海門津次夀五十有七其年冬孟勅贈太子太傅郡公卜葬於嘉定 
府城之北師故所築精含也是為誌旹 
歲次庚申仲秋月穀旦竪 
督學堂花川侯臣阮嘉吉奉撰 
兵部左叅知定成侯臣黎知止奉書 

Châu thành thanh lịch neo đường, Vòng lớn vòng nhỏ xe thường vản lai.
Xe lửa luôn tối đến mai, Bộ hành Gò-vắp gái trai đông hoài.
Phan dinh nghiêm chỉnh trong ngoài, Học trường giáo dưởng nhơn tài thiếu niên.
Phố phường đôi dảy tương liên, Dân cư đông đão riêng riêng theo nhà.
Đình chùa lăng miểu các toà, Nhứt là Bình-hòa hai nữa Hanh-thông.
Thợ nhuộm ở tại Hanh-thông, Tiếng thợ Gò-vắp tục đồng biết danh.
Miễu-nổi phong cảnh rất xinh, Nơi giữa Bến-các thiên thành tự nhiên.
Cây gừa sanh trưởng kinh niên, Rễ bao tàng phủ lưởng biên vững vàng.
Một bên thì sẳng đá hàng, Đở bồi nền miễu rỏ ràng trời sanh.
Mặt tiền các trắng sạch tinh, Tiền đường trên bải xanh quanh lót sàng.
Ngủ-hành thờ phượng nghiêm trang, Ghe đi qua lại hay van vái bà.
Thiện nam tính nữ gần xa, Tam nguơn tứ quí đều ra cúng thường.
Phải là một chổ Tiêu-tương, Tục kêu Miễu-nổi chiêu chương đã đà.
Tây-ninh có núi Điện-bà, Đây thời Miễu-nổi đều là địa linh.
Nhứt sơn nhứt thủy hữu tình, Há rằng lớn nhỏ trọng khinh đôi đường.
Hèn chi ông Diệp-văn-Cương, Đề Phù-châu-miễn chử tường biễn son.
Lâu dài trời đất sông non. Trăm ngàn thu dưới miễu còn tạc danh.
Đôi ba làng cận châu thành, Đờn ông lắm kẻ dinh sanh Sài-gòn.
Thứ nhứt là sở Ba-son (Arsenal), Rây rây các sở vợ con đủ dùng.
Xuân-trường mạch nước rất trong, Có cất nhà mát công đồng để chơi.
Khi nào thừa hứng sẳng nơi, Các quan tới đó nghỉ ngơi rượu trà.
Trừng thanh thủy để kiến sa, Tấm vào im tóc mát da cả ngày.
Trong mười tám tổng rộng thay, Thổ nghi sảng vật lược bày ra sau.
Đậu mè cải bấp trầu cau, Thơm dưa măng mít mản cầu xoài voi.
Nhản lồng tươi ngọt hẳng hòi, Thuốc gò trà đọt mặng mòi thơm ngon.
Cần-giờ cữa biển thon von, Tôm cua sò cá vật ngon bộn bề.
Nhà tây lầu các chỉnh tề, Để cơn hóng mát khi về khi đi.
Nước thời linh láng tứ vi, Sâu nơi lòng lạch dể thì vào ra.
Bải-dài, cồn-vược, ăn xa, Vọng đăng hai chổ nhắm mà ngay nhau.
Khỏi bề tâm tối lo âu, Ghe thơ đậu bến nghe tàu xúp lê.
Trên bờ địa lợi phủ phê, Dân cư rẩy ruộng ê hề lúa khoai.
Trái cây có mản cầu dai, Ăn vào thơm ngọt ai ai cũng dùng.
Người Thanh ở đó quá đông, Làm ăn trên đất dưới sông đủ nghề.
Cá-trê, Giồng-tố, Nhà-bè, Hai bên ruộng đất ngó mê cả đồng.
Nhà-bè sông gọi Phước-long, Truy nguyên sự tích tiếng dùng không sai.
Thuở xưa đường bộ chưa khai, Đem ghe kết lại cho dài mà đi.
Nước lớn thả lên một khi, Nước ròng thả xuống vậy thì cũng xong.
Cực vì ghe hẹp ngoài trong, Khi cơm khi nước khó lòng nấu ăn.
Phú-hộ là ông Thủ-Hoằng, Thương người khổ não lăng xăng tư bề.
Bó tre trên cất nhà bè, Sắm đồ thập vật ê hề làm ơn,
Để mà tế cấp hành nhơn, Chẳng thèm tính thiệt so hơn lằng xằng.
Dân bèn bắt chước Thủ-Hoằng, Nhà bè sắm sữa giăng giăng cất đều.

Nhóm nên chợ nước dập dều, Nay còn để tiếng tục kêu Nhà-bè.
Đến sau giặc giã bộn bề, Nhà-bè phá hết chẳng hề còn chi.
Lá dừa nước trong Nam-kỳ, Nhà-bè tứ phía vậy thì đầy sông.
Tân-an, Mỷ, với Gò-công, Lá dừa huê lợi nhẫy đồng biết nhiêu.
Miềng trên các hạt cũng nhiều, Lá chầm lá xé tên đều khác xa,
Cũng là dùng để lợp nhà, Coi thời vật mọn mua ra bạc ngàn.
Đồn-cá-trê nay rỏ ràng, Có kho dầu lữa của quan tạo thành.
E khi hỏa hoạn thình lình, Làm ra xa cách để dành phòng sau.
Đồn Tam-kỳ rạch rộng sâu, Có hảng trử dầu tên ết-bê-đên (Speidel).
Cần lao thương cuộc khá khen, Gốc người Đại-đức Rút-Sen (Prussien) kinh thành.
Phú-xuân địa cảnh rất xinh, Thủ-thiêm, Xóm-chiếu Châu-thành chẳng quê.
Nhơn dân sanh ý no nê, Không giàu sang mấy mà bề thảnh thơi.
Tục hay trà rượu ăn chơi, Đấu kê đổ bát lắm nơi điếm đường.
Thị-nghè có sở nhà thương, Của các bà-phước sữa đương mối giềng.
Nuôi người bịnh hoạn nhãn tiền, Mãng lo cơm thuốc cho thuyên mới đành.
Nhà Đức-chúa-Trời hiễn linh, Xưa còn nhỏ ít nay thành lớn đông.
Một tòa thứ lớp ngoài trong, Nơi nơi sắp đặt đều lòng ngỡi nhơn.
Lại thêm Nhà-nước ra ơn, Mỗi năm cho bạc giúp cơn thích dùng.
Thủ-đức chợ nhóm rất đông, Hai bên phố xá chánh trung nhà làng.
Đình thần vén khéo nghiêm trang, Thường niên tế tự kỷ cang kỉnh thành.
Dấu xưa chữ nghĩa học hành, Nay hãy để dành khí tập phong thinh.
Thuở kia ông Tạ-dương-Minh, Lập chợ Thủ-đức tại Linh-chiễu rày.
Mã người cãi tán mới đây, Bỡi làng xin bạc đỗi xây mộ phần.
Quan trên niệm nghĩa thi ân, Cho ba trăm rưỡi trùng tân giai-thành.
Hương chức ở rất hậu tình, Mỗi năm ngày kỵ xanh quanh tới đều.
Nam phụ lão ấu dập dều, Hương đăng trà quã mĩ miều khiết tinh.
Miễu đề chữ Tạ-dương-Minh, Cất riêng ra chỗ một mình qui mô.
Đã tu miễu lại đấp mồ, Mĩ tai nhơn lý thạnh hồ nghĩa phong.
Huê nghiêm chùa phật thôn trung, Huệ-Lưu giáo thọ bền lòng chơn tu.
Mình vào trong thất tối mù, Xát thiêu hồn dỏi tây du trọn nghì.
Thiệt là phải đạo từ bi, Kể chi danh lợi luận gì phát phu,
Thà cam tiên hữu Phật trù, Siêu thăng tịnh-độ cỡi cù chơi mây.
Hềm vì lão mẫu còn đây, Đặng danh mất hiếu làm thầy sao xong.
Có một sở trường thầy-dòng, Bên chợ Thủ-đức nơi trong nẻo đường.
Bày ra cách dạy tỏ tường, Bỗn căng qui cũ của trường Ta-be (Taberd).
Ơn trên Thiên-chúa chở che, Dưới nhờ Linh-mục khéo bề sữa đương.
Lớp thời kinh sách đọc thường, Lớp thời bút toán văn chương tập cần.
Học trò đương lúc thanh xuân, Bền công gắn sức dần dần thời nên.
Thêm trường địa hạt một bên, Tốn hao của nước ơn trên nặng dày.
Dạy hay là phận ông thầy, Trẻ con ăn học phải rày cho siêng.
Bến-thơm phía dưới đất liền, Ngó in như chợ ở miền gần sông.
Qua đến mùa thơm thì đông, Chở thơm tới đó không không bữa nào.

Ghe buôn bến ấy ra vào, Mua bán ào ào đông đảo quá tay.
Bình-lợi cầu sắt mới xây, Đưa qua kéo lại máy quây nhẹ nhàn.
Một đường xe lữa rỏ ràng, Một đường xe ngựa một đường người đi.
Bề trường kễ hết y nguy, Hai trăm bãy chục sáu thì thước tây.
Bề hoành bảy thước hai tây, So cầu Lục-tỉnh cầu nầy lịch hơn.
Chợ thời Gò-vắp, An-nhơn, Bà-chiễu, Bà-quẹo, Cây-lơn, Thị-nghè.
Hốc-môn, Bà-điễm, Quán-tre, Thủ-thiêm, Long-kiễn, lại kề Phú-xuân.
Phú-thọ phong thủy đương hưng, Tiềm long diễm huyệt người từng chuộng yêu
Mã mồ chôn đó cũng nhiều, Nhà giàu Chợ-lớn thảy đều có chôn.
Đất tốt yên ỗn linh hồn, Thiên-hạ tiếng đồn kiết địa giàu sang.
Vườn-trầu mười tám thôn trang, Rỏ ràng một cõi dọc ngang nghạnh cường.
Đôi phan nghịch lý loạn thường, Nghe theo ông Hớn quên đường quấc gia.
Dậy giết ông Đốc-phủ Ca, Xóm làng náo động trẻ già hoản kinh.
Đặt vè ai khéo trớ trinh, Đỗ cho thù oán mà thành chuyện ra.
Thỗ sãng trầu thuốc với trà, Người người siêng sắng nhà nhà làm ăn.
Lớp xe chuyên chở lăng xăng, Lại thêm lớp gánh lớp bưng nhảy tràng.
Nọc phân trữ để sẳng sàng, Tại nơi Chợ-vựa các làng tới mua,
Trầu thuốc bán đủ bốn mùa, Nhơn dân nghệ nghiệp cứ đua làm giàu.
Thánh-đường nghiêm chĩnh trước sau, Bề-trên Linh-mục sữa trao mối giềng.
Trải xem Thập-bát-phù-viên, Một nơi Bà-điểm khuôn viên mỉ miều.
Ngựa hay mua sắm quá nhiều, Mỗi kỳ đua ngựa thảy đều có ăn.
Hai mươi hai hạt xa gần, Tiếng ngựa Bà-điểm ai bằng đặng đâu.
Thần từ phong thủy nhiệm mầu, Có phường Trinh-nữ đã lâu tồi tàng.
Thị-thơ nguyên bị cường gian, Giữ mình trinh thục chết oan linh hồn.
Nhờ vua đại đức chí tôn, Biển vàng sắt tứ vỉnh tồn thinh danh.
Lập phường đề chữ nữ trinh, Lâu năm vôi ngói tan tành rã hư.
Biễn vàng một tấm còn dư, Đem vào thần miễu thờ chừ bên hiên.
Xuân kỳ thu báo thường niên, Cỗ bàn phụ cúng liền liền chẳng sai.
Đất giồng cao ráo thanh bai, Nhà dân cất ngói trong ngoài dọc ngang.
So cùng tứ cận các làng, Mình Tân-thới-nhứt rỏ ràng có hơn.
Tiếng đồn gà đá chưng trơn, Thời gà Bà-điễm lắm cơn ăn tiền.
Đình chùa miễu vỏ linh thiên, Mỗi người mỗi có đạo riêng của mình.
Chánh-chung cai trị công bình, Phần ai nấy giữ thích tình hương thôn.
Thuở trước chỗ Tây-thới đồn, Là nơi Tân-thới-nhì thôn địa phần.
Có mã ông quan trào tân, Người xưa tữ trận vi thần tận trung.
Nay còn thạch mô ghi công, Bên đường qua lại người đồng xem trông.
Gần đó có bưng Cầu-bông, Ấy kinh Tầm-lạt ngã sông mới đào.
Hai bên ruộng khẫn biết bao, Thã lờ đặt lọp rạch ao bộn bàn.
Thông qua Bến-lức Thuận-giang, Ghe đi buôn bán xoàn xoàn vô ra.
Cựu-trào có đồn Rạch-tra, Hoành đối Sông-búng ngang qua thủ phần.
Cách tỗng một nơi thủy tân, Vĩnh-an-tây xã xa gần đều hay.
Bến-vua kêu tiếng lạ thay, Kề bên Bàu-chứa người rày thấy nghe.

Có mã ông La-rê-Nhe(Lareynière), Thuận-kiều thẳng xuống giăng tre Chí-hòa.
Ngài xưa tá vận quấc gia, Đường tên mũi đạn mình đà quyên sanh.
Nay còn mộ chí đành rành, Hùng danh tạc để sữ xanh chẳng già.
Cách xuống bốn ngàn thước xa, Có cây thạch-trụ xây ra bên đường.
Bao nhiêu tữ sĩ chiến trường, Chữ tây chạm khắc tỏ tường sự công.
Ngó lên sở-mía giữa đồng, Một tòa cao vọi rộng thông tư bề.
Ông Lê-phát-Đạt cúng về, Tốn hao của ấy ước kề ba muôn.
Làm nhà hưu trí giải buồn, Các cha bỗn quấc luôn luôn dưởng già.
Thiệt là hùm chết để da, Người chết để tiếng cũng đà vẹn xong.
Trương-gia từ, tại Hanh-Thông, Tiên nhơn phần mộ ở trong chĩnh tề.
Qui mô sắp đặt tư bề, Để gương hiếu thuận truyền về lớp sau.
Chữ rằng hồ chánh thủ khâu, Thủy nguyên mộc bỗn một câu ghi lòng.
Chùa Tập-phuớc có sắt phong, Lữa hương sánh với non sông còn hoài.
Giác-lâm chùa tỗ sơ khai, Tục kêu Cẩm-đệm lâu dài thạnh sung.
Thuở xưa Hoài-Đức Trịnh-công, Viên-quan-hòa-thượng cũng đồng bạn chơi.
Kẻ Vương người Phật theo đời, Khi sau hội ngộ có lời tặng ngôn.
Một bài cỗ điệu ngũ ngôn, Trịnh-công thủ bút thuyền môn rỏ ràng.

Bài ngũ ngôn cổ điệu của Trịnh-công ở sau đây:

五言古調詩云 
憶昔太平辰鹿洞方盛美釋迦教興崇林外祖富貴 
我為燒香童師作持戒士雖外分青黃若黙契心志 
風塵識良朋世界入餓鬼萍梗仨浮沉泡影等生死 
奄四十餘年恍瞬息間事西郊適閒行出門偶相値 
我協辨鎮公師大和尚位執手擬夢魂談心雜驚悸 
往事何足論大道合如是 
欽差吏部尚書行嘉定城協總鎮事安全侯鄭艮齋題 

Một trăm chín chục một làng, Miễu đình cách thức rở ràng dể coi.
Lễ nghi trần thiết hẳn hòi, Xuân kỳ thu báo rẻ ròi tôn nghiêm.
Bấy lâu chữ nghĩa mất chìm, Mà còn cung kĩnh khiêm khiêm đủ đều.
Trường tổng trong hạt cũng nhiều, Dạy hai thứ chữ mơi chiều cần khuyên.
Các nơi thêm có trường riêng, Minh-tâm ấu học thầy siêng giảng hoài.
Mồng năm lễ tết đủ xài, Lệ bày ôn cố tháng vài kỳ chơi.
Bữa rầm với bữa ba mươi, Học trò chuối gạo cúng mời Âm-nhơn.
Hư nên không mấy thua hơn, Dùng dùng thẳng thẳng như đờn còn dây.
Hội riêng các miễu chùa nay, An-nam các-chú khéo bày thói ra.
Bày ra có hội thờ bà, Hoặc là thờ tổ hoặc là thờ ông.
Đờn bà dỉ chí đờn ông, Đến ngày tế tự đồng lòng tư lương.
Y quan phẩm tiết tỏ tường, Vản lai thù tạt phô trương dập dều.
Làm cho thần khỏi quạnh hiêu, Bởi vì tập tục kính yên bày đều.
Bến-thành Chợ-lớn quá nhiều, Chùa kia miễu nọ tốt đều qui mô.
Pháp-trào vỉnh viễn cơ đồ, Quỉ thần đắt sở thạnh hồ tứ phương.

Sài-Gòn

Sài-gòn phong cản hthi:

Khen bấy Sài-gòn định giới cương,
Lăng xăng ngã ngách dọc ngang đường.
Cột cờ Thủ-ngữ xây trăm trượng,
Trại lính Hội-đồng trấn một phương.
Dinh dảy cữa nhà chen thứ lớp,
Bạc vàng su lúi đỗi cang thường.
Phiền ba xiết kể nay thanh lịch,
Lể nghĩa ngày xưa chạnh nổi thương.

Sàigon kinh ký phong cương, Quan quân đô hội cầu đường lịnh xinh.
Nguyên xưa Gia-định tỉnh thành, Biễn dâu đổi cuộc nay thành phiền ba.
Nhứt là đường Ca-ti-na (Catinat), Hai bên lầu cát phố nhà phân minh.
Bực thềm lót đá sạch tinh, Các cữa hàng bán lịch thanh tốt đều.
Máy may mấy chổ quá nhiều, Các tiệm tủ ghế dập dều phô trương.
Đồ sành đồ cẩn đồ đương, Đồ thêu đồ chạm trữ thường thiếu chi.
Những đồ Đại-pháp, Huê-kỳ, An-lê, Nhựt-bỗn, món gì cũng sang.

Hàng tây các sắp nhẫy tràng, Xiêm, Mên, Bắc-thảo, đồ đoàn bố vi.
Chực đường có trẻ cu-li (coolie), Kêu đâu sẳng đó đem đi lẹ làng.
Lớp thời xuống bến Nam-vang, Lớp qua Khánh-hội lớp sang Nhà-rồng.
Lớp xe về lối ngoài trong, Lớp đi theo dỏi mấy ông dọn nhà.
Nhà-in, nhà-thuốc, nhà-chà, Nhà hàng ăn ngủ với nhà Lạc-xon (l’auction).
Chổ ăn chổ ngủ đều ngọn, Thong thả lại còn uống rượu đánh lăng.
Phong lưu cách điệu ai bằng, Đường đi trơn láng đèn giăng sáng lòa.
Thứ năm thứ bảy thứ ba, Với đêm chúa nhựt hát nhà hát tây.
Nước nào tục nấy cũng hay, Tiếng đờn tiếng hát nghe say tánh tình.
Nhà hát cất giữa châu-thành, Họa đồ lấy kiểu bên thành Ba-ri (Paris).
Nữa năm hát tại Nam-kỳ, Nữa năm về xứ Ba-ri của mình.
Tháng năm cất gánh qui trình, Tháng mười thời lại Nam hành một khi.
Coi thì cũng một đường đi, So trong lịch sự đâu bì Ti-na (Catinat).
Khi nào có rước quan gia, Với khi lể lớn thiệt là kỷ cang.
Đôi bên cờ dựng rở ràng, Tuần binh sắc phục chửng chàng nghi dung.
Ro-đôm (Norodom) bốn phía dựng cùng, Với trước nhà hát một vùng Bô-na (Bonard).
Bóng cây im mát diềm già, Nhà thờ Thiên-Chúa ngay mà trung tim.
Đá xây bốn phía vách thềm, Mặc nền hoa thạch trơn êm làu làu.
Lầu chuông chót vót vọi sâu, Hai cây thánh giá hai đầu trên cao.
Đồng hồ chỉ đúng khắc sao, Người qua kẻ lại nhắm vào phân minh.
Đức-Bà tượng đá trắng tinh, Mấy đầu cột đấp hoa hình khuôn viên.
Tốn dư muôn triệu bạc tiền, Lập thành cơ chỉ vạng niên thái bình.
Mổi tuần xem lể đọc kinh, Tiếng đờn tiếng hát âm thinh rập ràng.
Hai bên thứ lớp ghế bàn, Sạch sẻ kỷ càng đủ sắc quan dân.
Vừa khi thái-tuế Nhâm-dần, Tháng hai mồng một tảo thần bày ra.
Ngày tây mồng mười tháng ba, Nhứt thiên cửu bách lẻ mà hai năm.
Bảy giờ xe ngựa xâm xâm, Các quan thẳng tới thảy khâm kính đều.
Y quan rực rở dập dều, Đức-cha trần thiết lể điều tạ an.
Mấy ông chức lớn ngôi sang, Đít-cua (Discours) miệng đọc kỷ cang tỏ nhầm.
Người coi đô hội ngàn trăm, Thấy hình cha cả tay cầm bức thơ.
Hình Đông-cung Cảnh bé thơ, Coi inh hồi nhỏ ngẩn ngơ Ri-thành (Pondichéry).
Dung nghi phưởng phất như sanh, Mĩa mai hổ bộ long hành tốt thay.
Biết bao ân ngỡi Đức-thầy, Chịu lời ký thát nặng dày công lao.
Muôn trùng tách dặm ba đào, Uống sương ăn tuyết chẳng nao núng lòng.
Gương trung chói rạng hình đồng, Tay diều Thái-tữ Đông-cung chẳng rời.
Tích xưa tạt để đời đời, Phận là Quân tể tình thời sư-sanh.
Trải qua mấy lúc cải canh, Cơ trời đã khiến hư dinh tuần huờn.
Của dân ba vạn có hơn, Phụ thêm nhà nước ra ơn giúp tiền.
Thánh đường cội gốc nam thiên, Đúc nên hai tượng dựng liền trước sân.
Gẩm duyên hội ngộ có phần, Đâu quan Cần chánh Nguyển-Thân mới vào.
Trọng niềm Pháp, Việt, ban giao, Nhớ xưa sự tích lòng nào phui pha.
Lầu Đức-giám-mục thẳng qua, Cúng ba trăm bạc gọi là thảo đơn.

Nặng nề vì nghĩa vì nhơn, Vì nơi danh giá vì cơn tao phùng.
Tiệc bày thết đải Nguyển-công, Chủ tân thù tạt khiêm cung đủ đều.
Hậu tình quá nỗi kỉnh yêu, Mừng vui chưa phỉ bấy nhiêu chuyện trò.
Ngài đà tách dặm trường đồ, Đu-Me (Doumer) Tổng-thống tàu đò sang Tây
Đều là giúp nước hết ngay, Trí mưu thâm viển phải tay đại-thần.
Bên nhà Thiên-chúa rất gần, Có tòa giây thép coi phần điển thơ.
Hạt kia hạt nọ giấy tờ, Kẻ lui người tới âm thơ dập dều.
Man-đa (mandat) chẵng biết bao nhiêu, Gởi đem đồ đạt cũng nhiều nơi đi.
Mua cò tín-chỉ thiếu chi, Chánh trung có chỗ kêu thì thùng thơ.
Chẵng hề trể nải đợi chờ, Lon-ton (Facteur) cứ lệ tới giờ soạn đam.
Ví dầu đông bắc tay nam, Đâu đâu cũng thấu cơ giam nhiệm mầu.
Thiệt là trí hóa cơ cầu, Làm ra giản tiện lẹ mau dân nhờ.
Biên-hòa còn dụng xe tờ, Mới bày bây giờ xe máy Tây-ninh.
Toàn-quyền Tổng-thống Đại-dinh, Tứ vi song sắt tiền đình nghiêm trang.
Ngoài thời có cữa tam quang, Trong thời lầu cát dọc ngang nhiều từng.
Đá bông xây lót dưới chưn, Lên thang xuống cấp sáng trưng đêm ngày.
Mấy người liêu thuộc chơn tay, Mỗi tuần chúa nhựt một ngày nghỉ công.
Ngang qua đường Mặt-má-hồng (Mac-Mahon),
Ro-đom (Norodom) phía trước giữa lòng rộng ngay.
Sau dinh có sở vườn cây, Vườn của Thành-phố Xã-tây tạo thành.
Bồ-rô (jardin de la ville) roi dấu hiệu danh, Để khi nhàn hứng thích tình du quan.
Có ngôi mã đá bỏ hoan, Xây xôi bền chắc vững vàng ngoài trong.
Hãy còn ở giữa bồn bông, Lâu dài sánh với non sông chẳng già.
Cách ba trăm thước không xa, Ba hình ngó xuống đường là Bê-ranh (Pellerin).
Các nơi Pháp-quấc tĩnh thành, Có ba hình ấy xanh quanh dựng cùng.
Cớ sao đem tới Nam-trung, Nguyên vì một chỗ không sung bạc tiền.
Vậy nên chuyên chở xa miền, Huờn công cho thợ vốn tiền bên nây.
Dư xài mua giúp cũng hay, Lại là roi dấu những tay tài tình.
Bỗn-quấc (Chasseloup-Laubat) trường gốc học hành,
Văn-chương dạy dỗ rỏ rành trang nghiêm.
Giờ học bốn phía lặng im, Ghế bàn đâu đó khiêm khiêm kĩnh nhường.
Chia ra bên nọ một phương, Cho con tây học tiền trường Xã-tây.
Lại còn một phía bên nây, Bá-công-kị-nghệ (Professionnel) có thầy dạy riêng.
Nam-kỳ sỉ tữ tinh chuyên, Nhiều người thành đạt liền liền trước sau.
Ta-be (Taberd) trường lập đã lâu, Đờ-kẹt-lăng (Dekerland) trước làm đầu khởi ra.
Thương con nít thể ruột rà, Cũa nhà tự xuất lập mà Ta-be.
Ơn nhờ Thiên-chúa chở che, Lần lần sung thạnh ngày khoe hạo phiền.
Đời Đức-cha Mỷ càng siêng, Đem thầy dòng lại mối giềng mở mang.
Thông minh hậu tấn bộn bàn, Học rồi thi đậu làm quan cũng nhiều.
Nhớ xưa công nặng dắc dều, Dung nghi mô phạm quạnh hiêu bao đành.
Chung tiền tạt đúc trượng hình, Dựng trước trường học gọi tình thảo chăng.
Rỏ ràng ông Đờ-kẹt-Lăng, Ngàn thu trông ngó xem bằng đẩu-sơn.

Thiệt là hậu ngải thăm ơn, Nay còn Bỗn-hội đồng nhơn nội trường.
Những người Phủ Huyện viển phương, Thông-ngôn, Thông phán trãi phường dinh quê.
Mổi năm một bữa Hội-tề, Lể Băn-tờ-cốt (Pentecôte) đều về yến diên.
Tốt thay phong hóa roi truyền, Cho con vào đó tốn tiền cũng ưng.
Có con ai chẳng thương cưng, Nên đặng thời mừng đẹp mặt cha mẹ.
La-tinh trường gốc các cha, Của trong hội thánh lập đà mấy thu.
Để mà dạy những thầy tu, Coi trong tánh hạnh cang nhu thể nào.
Văn chương mẹo mực dường bao, Lựa cho phải mặt mới vào làm cha.
Người thời lỡ bước trở ra, Người thời trì chí lâu mà luyện am.
Linh mục chức không dể làm, Hai bên tài đức đều kham mới thành.
Sở cọp trường nhỏ cũng danh, Lập tại châu-thành đường sá quân phân.
Gội nhuần nhà nước thi ân, Bày ra phương tiện cho dân dể dàn.
Mấy người nghèo khỗ cơ hàng, Đem con ăn học vửng an tấm lòng.
Lớp lang nghiêm chỉnh ngoài trong, Lần qua trường lớn thành công làm thầy.
Vui xem con nít đông dầy, Gắng siêng đèn sách sau rày đêu nên.
Trường con gái ở một bên, Cách bày dạy dỗ vửng bền lắm thay.
Trường của thành phố xã-tây, Nử-sư Pháp-quấc làm thầy thuở nay.
Dạy vừa thêu tiểu vá may, Tiếng tâm chử nghỉa cho hay mọi nghề.
Gái Phan-sa học bộn bề, Học chử học nghề thêm trí thông minh.
Làm ra phong hóa lịch xinh, Sắc tài gồm đủ đặng vinh cho mình.
Sơn-đá (soldat) chỗ thành bộ binh, Ba từng lầu cất phân minh vửng bền.
Dấu còn thành củ vách phên, Nay làm một sở cội nền quấc gia.
Quan một, quan hai, quan ba, Dạy quân hàng ngủ vào ra chỉnh tề.
Binh thơ các phép luật lề, Ngày ngày học tập chẳng hề đơn sai.
Thái bình thường bữa dồi mài, Gặp cơn bát loạn chi nài đục xông.
Bởi vì dự bị sẳng xong, Để cơn cảng vệ để phòng xuất chinh.
Dưới tàu thì có thủy binh, Lớp tuần ngoài biển lớp đình trong sông.
Thủy thời có soái thủy công, Bộ thời có soái bộ công hẳng hòi.
Đâu đâu phần trị phần coi, Miệng hô kèn thổi như thoi trở liền.
Ba-son (arsenal) là sở tạo thuyền, Đủ các thứ thợ liền liền làm công.
Thợ rèn nóng nguội song song, Phận ai làm nấy cho xong mới nhàn.
Thợ bào, thợ dũa, thợ khoan, Thợ mộc đóng ghế, đóng bàn, tủ, rương.
Thợ sơn với thợ xảm đương, Thợ hàng thợ thiết các phường còn đông.
Cập-rằng là kẻ đầu công, Những trang thơ-ký thảy thông toán đề.
Đâu đâu thứ lớp nghiêm tề, Chỉnh tu thuyền lảm tư bề nhuệ kiên.
Ụ tàu an đốn cận biên, Chờ khi tu bổ hỏa thuyền đem vô.
Thiệt là lợi thiệp hải hồ, Nước giàu binh mạnh cơ đồ muôn năm.
Sỡ-mộ (Artillerie) chứa súng ngàn trăm, Kho để trái phá chất nằm ngổn ngang.
Kho-đạn, kho thuốc, kho thang. Kho bánh rượu thịt để ban binh biền.
Hình Nguyên-soái cận giang biên, Ngó ra sông lớn phía tiền oai nghi.
Tên-gọi Đờ-rơ-nu-di (Rigault de Genouilly), Đường-đường-diện mạo tu mi anh hùng.

Thống lảnh các đạo binh nhung, Tam quân tư mạng chuyên trong trướng hùm.
Tám trăm năm chục tám năm(1858), Nhắm Đà-nẳm tấn xâm xâm ghé hòn.
Năm mươi chín, lấy Sài-gòn (1859), Công lao sự tích sữ còn chép ghi.
Ngàn thu đồng sắt tri tri, Rỏ ràng nét chử y nguy tạt đề.
Gần đó Đờ-la-cờ-rê (De Lagrée), Biểu dương thạch trụ bởi về niệm công.
Dạo xem các xứ Mê-công (Mé-khong), Cỏi bờ hình thế hiễu thông đặng nhiều.
Địa đồ mấy bức họa miêu, Dầm-dề sương tuyết biết nhiêu dặm trường.
Rủi ro bịnh mất giữa đường, Dấu rơi nhà nước thường thường kĩnh yêu.
Đá xây tích để tạt biêu, Người qua kẻ lại mơi chiều ngợi danh.
Trước Nhà-hát cũng một hình, Gạt-Nhê (Francis-Garnier) thuở nọ liều mình hết ngay.
Bị trận Cầu-giấy đến nay, Ngàn thu diện mạo trày trày nét da.
Đông-dương Thương-chánh một toà, Chỗ là tiền bạc Quấc-gia cội nguồn.
Thâu vào ức triệu luôn luôn, Chi tiêu các sở ngàn muôn cậy nhờ.
Lý tài trên khéo tri cơ, Làm ra giàu mạnh tư cơ lâu dài.
Thượng-thơ Chĩnh-đốn trong ngoài, Ngăn phòng thứ lớp an bài nghiêm trang.
Mỗi phòng đều có đầu quan, Thông-ngôn Thơ-ký các bàn An-nam,
Công việc phận ai nấy làm, Hai bên nhứt, nhị, tứ, tam bốn phòng.
Mối giềng sáu tĩnh giao thông, Đâu đâu sổ sách công đồng phân minh.
Hội-đồng-nghị-viện trung dinh, Các ông Quản-hạt thích tình bẻ bai.
Tre tang măng mọc nối hoài, Lớp xưa tuyển cử ai ai cũng tài,
Lớp sau thay đổi mấy ngài, Biện thiệp đa tài quen thuộc nói năng.
Thượng-thơ là chỗ bỗn căng, Việc-quan các hạt công văn rất nhiều.
Kho sách, sách biết bao nhiêu, Các-quan lui tới thảy đều coi chơi.
Ghế bàn đâu đó sẵng nơi, Cổ kim sự tính chuyện đời chiêu chương.
Phiên-dịch chổ gốc văn chương, Tiếng tâm chữ nghĩa các phương nhiệm mầu.
Ông Diệp-văn-Cương đứng đầu, Tây nam hai phía thích câu phân bài.
Thông minh kiến trọng Hiến-đài, Thiên tư mẫn đạt khâm hoài hào ba.
Lương bằng Tham-biện hạng ba, Thật nhờ hậu ý Quốc-gia dưỡng hiền.
Tánh hay hiếu kỉnh từ huyên, Tạo đoan phu phụ trọn nguyền thỉ chung.
Bạn thời chỉ tín một lòng, Lắm khi tế hiễm trợ cùng anh em.
Phải trang học hạnh lưởng kiêm, Hoanh hoanh liệt liệt khiêm khiêm đủ đều.
Khi nhàn thi tửu vịnh diêu, Vô ưu vô lự mỉ miều phong nghi.
Coi ra trung bối Nam-kỳ, Tài danh bực ấy kém gì Thanh-Liên.

Coi bài thơ phía sau:

稱譽過情君子恥之古人有是言也忝著 
南圻風俗人物演歌于葉使君人品甚 
有取焉爰贈一詩以誌 
詩云 
誰似曹彬貴得錢國恩家慶子孫䝨 
雲龍會合隨安遇鷄鶴班行咱自然 
通籍保全名與志一生剛直福成緣 
北堂尚在年強壯承奉公能孝所先 
己酉春王二月阮蓮𡶶敬題 

Bùi-quang-Nhơn, cũng sỉ hiền, Với Trương-minh-Ký huỳnh tuyền ra chơi.
Tử sanh số mạnh ở Trời, Song tình cảm khái bời bời nhớ thương.
Thuở trước ông Tôn-thọ-Tường, Làm Đốc-phủ-sứ văn chương lảo thành.
Tao-đàng sáu tỉnh biết danh, Mấy năm hoạn thự liêm thanh thận cần.
Bạn cùng Cữ-Trị tương thân, Tánh hay kỉnh sỉ xa gần ngợi phong.
Cử-Trị ăn ở lạ lùng, Áo quần xịt xạt điên khùng quá tay.
Gặp Tường thời Trị mắng ngay, Bởi vì tà tửu ít hay kiên dè.
Họa thơ chống chỏi chê đè, Tai ngơ danh lợi chẳng nghe chẳng cầu.
Ông Tường không dạ chấp câu, Mặc dầu kêu ngựa kêu trâu thích tình.
Đều là tương trợ thành danh, Đã lâu về cỏi âm-minh xa miền.
Tiết thương đạo vị thánh hiền, Chừ luôn nhắc lại cảm phiền lắm thay.
Thống-đốc độ lượng cao dày, Đờ-la-mốt (De Lamothe) lại ước rày mấy trăng.
Phải trang văn học Đại-thần, Nhơn tâm thiện chánh chuẩn thằng lục châu.
Nước nhà nuôi sỉ ơn sâu, Học chánh là chổ làm đầu giáo quan.
Tam-tòa trên dưới dọc ngang, Các phòng các sở nghiêm trang tư bề.

Xử hình, xử hộ chỉnh tề, Rung chuông hiệu lịnh thường lề thuở nay.
Trạng-sư lý đoán đặt bày, Ra công cải lẩy vạy ngay trước tòa.
Quan to quan nhỏ tại tòa, Gốc nơi Chưỡng-lý phân ra các đường.
Khám-lớn là chổ ngục đường, Khuôn viên bốn phía vách tường xây cao.
Canh giờ nghiêm nhặc ra vào, Gái trai phân biệt khi nào thấy nhau.
Phạm nhơn kẻ trước người sau, Kẻ can tội nhẹ người đau trọng hình.
Cậy nghề đương đát giải tình, Thương thay nhứt nhựt đã đành thiên thu.
Nhản tiền thấy nhửng đảng du, Làm hung mắc án ở tù biết bao.
Khỏi ra rồi cũng chẳng nao, Cứ theo thói củ ồn ào đã quen.
Mu-dích (Musique) nơi các bồn kèn, Vui lòng hứng chí nghe bèn giải khuây.
Sở nấu nha-phiến đông dầy, An-nam Các-chú thường ngày làm công.
Mùi hương thơm ngát ngoài trong, Thẫu-ô thẩu-bạch thuốc thùng chứa trên.
Dưới lầu hộp sấp kẹo lền, Ống cho thuốc xuống cân nên lẹ làn.
Bán đi các hạt muôn ngàn, Yên hà thích thú người càng vui say.
Châu thành một sở xã-tây, Bạc tiền thành phố càng ngày càng sung.
Giữa đường Kính-lấp (Charner) chánh trung, Lâu đài đường sá rộng thông tư bề.
Quan thầy thuốc, quan Nô-te (Notaire), Quan Thanh-tra với các đề hình quan.
Canh-nông ảnh-tướng bá bang, Tạp-tụng sanh-ý các hàng nhà thương.
Sáu tĩnh nhà cữa cầu đường, Gốc bên Tạo-tát sữa đương cầm quyền.
Tiếng kêu là sở Trường-tiền, Hai mươi hai hạt mối giềng âu lo.
Khám-đạt là sở họa đồ, Nam-kỳ ruộng đất sấp đo điệp trùng.
Quan Kinh-lý, Mai-văn-Cung, Thật người cần cáng mà công nghiệp nhiều.
Tánh hay không lẩn không kiêu, Quấc-gia hậu lộc chuộng yêu người tài.
Dinh, Quan, Bính, Lắm, Sang, Tài, Với Phạm-ngọc-Chiếu bãy ngài có danh.
Vẻ vời ăn nói khôn lanh, Công lao giúp nước đã đành tạc ghi.
Quan trên người phải thương vì, Làm lâu thêm trí thi vi bộn bề.
Kho-bạc trữ bạc ê hề, Phần về quản-hạt phần về Đông-dương.
Tuần thành bót (poste) các nẻo đường, Gốc nơi Cò-nhứt phô trương có phần.
Lính tuần lính kín cắt phân, Tuần do kiễm xét coi chừng thừa cơ.
Chẳng cho gian tế ơ hờ, Luân phiên chuyễn thứ cứ giờ đỗi thay.
Đại thương các hảng ở đầy, Các nhà lãnh sự đều rày lịch thanh.
Nhà-kín cách tu ép mình, Giữ chặc tánh tình như gắn keo sơn.
Nhà-mồ-côi thật có nhơn, Gặp con cô độc ra ơn giúp nàn.
Đem về hoạn dưởng gian nan, Tây, Nam, bất loạn hai đàng con ai.
Tục kêu Nhà-trắng lâu dài, Lớp lang nghiêm chĩnh từ ngoài đến trong.
Giữ gìn nữ hạnh nữ công, Lớn khôn thời gã lấy chồng làm ăn.
Đâu đâu có lớp có ngăn, Sữa đương giềng mối lăng xăng bĩ bàng.
Lắm nhà quyền chức giàu sang, Đem con vào học lòng an chịu tiền.
Chịu tiền thì để cách riêng, Các Bà dạy dỗ nhọc siêng đêm ngày.
Tiếng tâm thêu tiểu vá may, Văn chương chữ nghỉa học hay rỏ ràng.
Chuyện làm phải nghĩa rở ràng, Ơn nhờ Nhà-nước giúp đàng tiện nghi.
Mỗi năm chịu bạc bồ chì, Giao cho Bà-phước đễ khi xây dùng.

Có chỗ cân giờ nhựt trung, Trên tàu Ông-thượng đặt vòng Địa-la.
Còn năm ba phút vậy mà, Đem đồ hiệu lịnh kéo qua cột cờ.
Đợi đến đúng mười hai giờ, Đồ kia rớt xuống súng hờ giựt dây.
Nổ lên một tiếng vang vầy, Châu-thành bốn phía sum vầy giấc trưa.
Vườn-thú cao thấp nhặt thưa, Cỏ cây các món vừa vừa sum sê.
Thượng cầm hạ thú bộn bề, Côn trùng lân giáp kiếm về nhốt nuôi.
Khi nào thừa hứng chơi vui, Quan dân tới đó cũng nguôi phiền tình.
Một tòa Đề-đốc đại dinh, Trướng hùm nghiêm chĩnh chỗ thành nguơn nhung.
Hảng tàu hai sở rộng thông, Một sở nhà-rồng một sở Nam-vang.
Hảng bạc trữ hạc muôn vàng, Nhà máy Xóm-chiếu gạo tràng viễn phương.
Hảng xe-lữa-nhỏ hai đường, Một đường Chợ-lớn một đường Hanh-thông.
Bộ hành lên xuống cũng đông, Nhắm sau đây cũng thạnh sung như thường.
Hảng xe lữa lớn hai đường, Một đường Chợ-lớn một đường Mỷ-tho.
Thiếu chi các hảng buôn to, Vạn thiên ức triệu cơ đồ kinh dinh.
Thiếu chi đường sá hiệu danh, Kể sao cho xiết linh tinh mọi bề.
Khá khen cho hảng bảo kê, Bảo thuyền bảo phố chĩnh ghê bảo người.
Công-ti tiệm biết mấy mươi, Hướng-đương nha-phiến nói cười xuê xan.
Cà-phe (café) bán các nẻo đường, Thuốc bao đỏ trắng xanh vàng lịch sang.
Máy nước phong-tên (fontaine) kỷ càng, Nắng thời xe nước tưới chang ướt dầm.
Chỗ coi các sở Kiểm-lâm, Giấy tờ sỗ sách mỗi năm liền liền.
Gỗ cây thiên vạng bạc tiền, Nam-kỳ lục-tĩnh mối giềng phân minh.
Phan-sa, quấc-ngữ nhựt-trình, Mỗi tuần in bán sự tình lăng xăng.
Gia-định-báo là công văn, Phát ra các hạt lệ hằng không sai.
Dọc ngang biết mấy lầu đài, Sở kia sở nọ kể hoài xiết đâu.
Phố phường cao thấp cạng sâu, Mặt tiền trong hẻm trước sau ở đầy.
Ước chừng hơn mười năm nay, Đờn bà nước chệc đỗi thay qua thường.
Bên Tàu lắm lúc nhiểu nhương, Dân đi các nước tiềm phương ăn làm.
Tách muôn ngàn dặm sang Nam, Đem thân bồ liểu lòng cam xa vời.
Sài-gòn Chợ-lớn hai nơi, Chệc trai với xẩm thảnh thơi ở trường.
Thói hay cúng đốt đèn hương, Tam nguơn tứ quí kỳ nhương liền liền.
Đoan-dương, trùng-cữu thường niên. Đêm khi khất-xảo ngày miền thanh-minh.
Trung-thu, Đông-chí rập rình, Lể kia lể nọ hậu tình biết bao.
Người sanh bất luận nước nào, Cũng đều phong tục tập vào thói quen.
Tấm lòng thành kĩnh khá khen, Lựa là giàu khó sang hèn mà chi.
Bến-thành chợ rộng tứ vi, Mấy cữa hàng xén ở thì luôn năm.
Chỗ ăn chỗ bán chỗ nằm, Ba-tăng (Patente) tiền thuế bạc trăm không cầu.
Ngoài thời cà mướp cau trầu, Chuối dưa măng mít bông rau cải hành,
Bắp khoai cam quít ớt chanh, Gà giò vịt đẻ cu xanh tôm càng.
Bành trái biết mấy chục hàng, Bò heo thớt thịt nhẩy tràng dọc ngang.
Cua gạch cu con ra ràng, Gà lộn trái vải rượu càng ngon xa.
Mấm nêm, mấm ruốt, khô tra, Tàn-ô, xà lách, bạt hà tía tô.
Bí rợ nấu với dừa khô, Măng le mấm ruốt vật mô sánh bằng.

Canh bầu nấu cá trê ăn, Cá rô củ cải tánh hằng ưa nhau.
Le le, chàn nghịch, ốc cau, Gà rừng, mỏ nhát, bò câu, áo dà
Se sẻ, ba kiến, đa đa, Trong các món ấy đều là tên chim.
Cá thời sủ, vượt, đối, chìm, Chét, hanh, phèn, bống, liềm kiềm, lưỡi trâu.
Ốc len, sò huyết, vọp hàu, Hến, ngao, trai, vẹm, kể hầu xiết đâu.
Xoài chua. mấm ruốt chung nhau, Với đào lộn hột ăn lâu không nhàm.
Ăn rồi nóng nải đa đàm, Đờn bà bỗn tánh lại cam thích dùng.
Sài-gòn thứ nhứt chợ sung, Nói sao cho hết điệp trùng hiệu danh.
Thiệt là một chỗ thị thành, Món ăn đồ bận cãi canh hoài hoài.
Gái ham sắc trai ham tài, Trai tài gái sắc sắc tài đều xinh.
Bao nhiêu vật giá trọng khinh, Thách cao mà bán bình bình chẳng cao.
Thầy bói gõ qui lao xao, Mỗi quẻ mỗi cắt nói phào cũng xong.
Thầy thuốc đờn bà đờn ông, Cao, đơn, huờn, tán, lắm công sấp bày.
Mấy đứa nói thơ cũng hay, Nói hoài nói hủy nghe rày như điên.
Chà và ngồi đỗi bạc tiền, Hai ba bốn chỗ liền liền buỗi mai.
Thường thì chợ sớm không sai, Lính tuần đi xét các loài cá ương.
Nhà dài mấy nóc đông thường, Ngoài thời ngồi chậc cả đường tràng khan.
Khá khen mấy chú dọn bàn, Tiếng tây học nói rỏ ràng quá lanh.
Nấu ăn nhiều kẻ có danh, Càng ngày càng khéo càng sanh trí mầu.
Thợ xe máy, cũng cơ cầu, Thấy thời bắc chước lậu lâu nghiệp thành.
Sài-gòn bốn phía châu thành, Bá công kị nghệ xanh quanh đông dầy.
Làm ăn không nới chưn tây, Kể hết ra rày vạn vạn thiên thiên.
Mổi người mỗi tháng có tiền, Kẻ nhiều kẻ ít lộc riêng vửng bền.
Gạo ba thắc, nước phon tên, Quán cơm quán rượu hai bên sẳng sàng.
Sở nào sở nấy nhẩy tràng, Gần đâu mua đó đồ đoàn thường xuyên.
Sang giàu thi sướng như tiên, Lên xe xuống ngựa bạn hiền vãn lai.
Nghèo thì có nghiệp sanh nhai, Ngày làm tối ngủ nằm dài thảnh thơi.
Những trang con gái các nơi, Đem thân lưu lạc về chơi Sài-gòn.
Tiếng tây tập nói cũng dòn, Sửa dồi nhan sắc phấn son sạch đời.
Chị em bạn tác khuyên mời, Lâu lâu xem cũng thành người lịch sang.
Người Hãi-nam ở dọn bàn, Tập khôn tập khéo nhà hàng đã lâu.
Rủ nhau ra mướn phố lầu, Làm nhà hàng nhỏ bán hầu cơm tây.
Sài-gòn danh nhứt đời nay, Sông sâu trăm trượng chánh ngay phía tiền.
Bực sông cẩn đá khuôn viên, Hư đâu sửa đó liên liên tu bồi.
Chi nhường kinh-quốc chổ vua, Nhơn dân đô hội tư mùa lịch xinh.
Thường ngày qua lại người Thanh, Tại tòa Tân-đáo xét trình luôn luôn.
Tục hay đờn địch giải buồn, Cúng cơm đãi tiệc thơ tuồng xướng ca.
Kim, tranh, bài bản rập hòa, Thanh tao nhả hứng miệng ca tay đờn.
Tốt thay mấy ả giai-nhơn, Tay vàng tay ngọc ngón đờn quá xinh.
Xe mui chiều thả xanh quanh, Đôi vòng Bà-chiểu thích tình vào ra.
Bánh mì các tiệm gần xa, Thơm ngon khí vị đều là khéo khôn.
Một mình Phước-thái tiếng dồn, Thường khi trước cữa dập dồn người ta.

Chùa Ông-bổn xóm Bà-ba, Tên Phụng-sơn-tự hội mà quá sung.
Bên đờn bà, bên đờn ông, Mỗi năm đáo lệ nhóm chung bạc tiền.
Xướng ca tế cúng liền liền, Bạn Nam bạn Quản hát liên đêm ngày.
Xả-tri các hảng cho vay, Ơ bên Ấn-độ đông tây các miền.
Tách ngàn qua cỏi nam thiên, Dinh thương phóng trái mối giềng gầy nên.
Cất ra phố xá vửng bền, Mua chợ mua đất kẹo lền đầy ngay.
Lớp thời bán vãi cho vay, Lớp thời làm việc đều nay chà-và.
Cũng là chung một tiếng Chà, Cã trong Ấn-độ vậy mà khác nhau.
Một Chà xã-tri khá giàu, Bạc muôn bạc vẹo chẳng cầu sức ai.
An-nam các-chú gạt hoài, Tính vắng tính dài tham có ích chi.
Cất chùa kĩnh phụng từ bi, Mổi năm chưng cộ Phật đi một lần.
Ba bốn chổ nữa cũng gần, Làm chùa thờ Phật riêng phần sữa trau.
Bến-nghé sông rất rộng sâu, Đặt tên Bến-nghé bởi đâu mà rằng.
Nguyên xưa rậm rạp còn rừng, Trâu thường dằm tắm hoặc chừng nghé kêu.
Ngày nay phong cảnh tốt đều, Tàu ghe lớn nhỏ đậu bèo hai bên.
Đò dọc rước mối xuống lên, Giành nhau xâu xé vang rên cã ngày.
Ghe bầu sắp lớp đậu ngay, Trong cầu Khánh-hội nối dài đỏi dây
Cầu-mống khen ai khéo xây, Mấy năm trải đã mấy rày xuân quan.
Có ba sở hảng cũng sang, Nghiệp làm đồ sắt ở ngang đầu cầu.
Chuyên nghề sữa máy đóng tàu, Lại đi chịu giá chợ cầu các nơi.
Xứ xa tàu mới tới nơi, Hư đâu mướn sữa thãnh thơi lẹ làng.
Các loài kẻm sắt đồng gan, Máy kia máy nọ nhẩy tràng biết bao.
Thường nghe đập sắt ào ào, An-nam các-chú ra vào tiếng vang.
Cột cờ Thủ-ngữ nghiêm trang, Có nhà đánh thuế hóa hàng bán buôn.
Xe lữa nhỏ đi luôn tuồng, Chổ người đông đảo rung chuông liền liền.
Chạy dài theo mé giang biên, Tới chợ Ông-lảnh phố liên ra vào,
Công-ty heo thường ào ào, Buổi khuya buổi xế biềt bao heo bò.
Cũng là sanh lý cơ đồ, Cã năm sát hại kể mô xiết ngàn.
Khỏi bót lên ngay Cầu-quan, Bên phía tay hữu luôn hàng thanh-lâu.
Nhựt-bỗn điếm đều ở lầu, Trướng phòng sạch sẻ rước hầu khách sang.
An-nam phố thấp ở tràng, Tối ra kéo niếu dọc ngang cùng đường.
Nực cười trêu phĩnh phấn hương, Biết ai là chắc cữu trường ái ân.
Lục-xi tuần lể hai lần, Đỉ nào cũng vậy sợ chừng bịnh đau.
Phía đường trước cữa Kho-dầu, Có hai rạp hát hai đầu la vang.
Thường đêm hát lấy tiền giàng, Mà đêm thứ bảy nhẩy tràng người ta.
Chùa Ông-thánh mới lập ra, Đất linh phải chổ nay đà thạnh sung.
Thái-hưng nội hội rất đông, Quan viên chức sắc đứng trong bộn bàn.
Thái-bình nguyên trước là làng, Đình-thần có sắt Thành-hoàng vua phong.
Sao dời vật đổi mấy đông, Hóa ra một chổ thuộc trong Châu-thành.
Chủ-hội tên là quãn Bành, Gốc con ông chủ Thái-bình làng xưa.
Mối giềng còn lại dây dưa, Nhờ người lòng tốt đẹp vừa với nhau.
Đồng tâm hiệp lực lo âu, Nay thành qui củ bền lâu vững vàng.

Tốt thay một xóm Cầu-qùan, Ăn chơi đờn địch lịch sang nhiều nhà.
Chợ-đủi sung túc cữa nhà, Có cảnh Chùa-bà tuy nhỏ mà linh.
Chổ chợ nhỏ coi cũng xinh, Nhóm năm bảy chục bình bình thường đông.
Kề bên đất-thánh nên sung, mã ông Lái-gẫm chánh-trung một nền.
Ngàn thu chói tạc họ tên, Khuôn viên bồi đấp vững bền xanh quanh.
Công thần miểu trước anh linh, Nay làm một chỗ tập binh trú phòng.
Phía sau đất trống minh mông, Xưa đồng Tập-trận rộng thông tư bề.
Mô súng dượt sáng thường lề, Trường đua thì để đấu về ngựa hay.
Kề bên gò đất cao đầy, Kêu rằng Mã-ngụy thuở nay tiếng cùng.
Minh-mạng thập lục niên trung, Phan-an thành hảm người trong hơn ngàn.
Nam phụ lảo ấu cả đoàn, Tội lây vạ tràng vua chẳng thứ dung.
Biền tru hạ chiếu ngai rồng, Thành trung tặc đảng chôn chung một hầm.
Giặc loàn chết đã cam tâm, Ruổi ro xích tữ lổi lầm vì đâu.
Hoan hồn ăn thảm uống sầu, Suối vàng lạnh lẻo ai cầu cho siêu.
Đời nay khôn quỉ quá nhiều, Tục ngữ bày đều mã-ngụy đầu thai.
Trớ trinh đặt để bởi ai, Tình cờ tiếng nói còn hoài đến nay.
Chợ-hộ phong cảnh tốt thay, Chùa Minh-sư lập tại rày ga-xe.
Trong chùa thanh khiết chỉnh tề, Ăn chay để tóc người mê Phật-đường.
Chùa Phù-châu ở bên đường, Tụng kinh viết sớ sãi thường thảnh thơi.
Cầu-bông địa cuộc thanh tươi, Có ông Phủ-Kiệt đương đời giàu sang.
Thuở kia cần khổ gian nan, Ở nơi đất Hộ mở mang tư bề.
Ngày nay đông đảo chỉnh tề, Tứ dân sanh lý nghiệp nghề thạnh sung.
Thẳng qua chợ mới rất đông, Ở ngoài Ba-xã vào trong quá nhiều.
Nghề chài nghề nhuộm mơi chiều, Đi buôn làm việc người đều thảnh thơi.
Nhà lầu thờ Đức-chúa-Trời, Tên kêu Tân-định thiệt nơi chỉnh tề.
Người trong họ, ở tư bề, Nhà in cha Thượng cất kề dựa bên.
Lập thành cơ chỉ vửng bền, Bán ra sách vỡ giúp nên các tràng.
Đinh-thái-Sơn người Nghệ-an, Gốc dòng khoa mụt rỏ ràng Trâm anh.
Vào Nam-kỳ thuở xuân xanh, Theo Lê-bá-Đảnh học hành lập thân.
Ai dè thời sự phân vân, Vào trường Tân-định tập dần công phu.
Bốn năm lao khổ cần cù, Học nghề đóng sách luyện tu nghiệp thành.
Rồi ra ở tại Bến-thành, Nhà Ô-gúc-Bốc (Auguste Bosc) tất tình làm công.
Mơi chiều phận sự vẹn xong, Mổi ngày hai cắt cũng không dạ phiền.
Lần hồi sau cũng khá tiền, Cám ơn nhạt-phụ đức hiền phối duyên.
Ăn chung mà lại làm riêng, ít nhiều thâu góp nhọc siêng tháng ngày.
Bày làm vốn nhỏ đầu tay, Năm trăm đồng bạc dựng gầy thiểu đa.
Dốc lòng bền chí trát ma, Nhờ ông Vỉnh-Ký ơn ra bão toàn.
Xin giùm đóng sách cho quan, Tại nơi kho sách bạc ngàn hóa sanh.
Ngày nay phấn phát thân danh, Vợ con sung túc lập thành qui mô.
Lưu truyền vỉnh viển cơ đồ, Cội cây nguồn nước dám mô quên nghì.
Hiệu đề Phát-Toán một khi, Đem tên cha vợ tạt ghi để đời.
Cho người hay biết nơi nơi, Băn thanh ngọc nhuận rạng ngời gia thinh.

恭贈安南印書堂主人丁泰山責台七言詩云 
有志欣君自擔當立成机器印書堂 
百般經始開生面諸轄菅謀集利場 
在我權衡昌事業新民視咱售文章 
啇途日進光明㸃従此南州並富強 
又恭贈著南圻書主人阮蓮𡶶先生五言詩云 
平定多英俊阮蓮𡶶逸才壯行司馬操老練歐陽懷 
筆墨留千古声名桭九垓四通還八達告往可知來 
右美萩地轄會同阮賽亮敬題以誌 

Hai tòa đất Thánh minh minh, Tứ vi xây đấp vách thành vọi cao.
Bốn mùa gió thổi rao rao, Linh hồn người chết thoản vào thoản ra.
Miễu chùa hội quán của ta, An-nam các-chú vậy mà biết bao.
Rủ nhau tiền bạc cúng vào, Thiện nam tính nử mặt nào chẳng ưng.
Gặp cơn trong hội không chừng, Người nào đau chết cơ bần rủi ro.
Của chung tình thảo xúm lo, Lể nghi tống táng chẳng cho đơn hèn.
Thiệt là trung hậu khá khen, Tập nhau chuyện tốt tục bèn thuần lương.
Đồ âm-công các ngã đường, Mấy người đầu-nậu đã thường sắm ra.
Thành phố hèn sang các nhà, Rủi khi tữ táng đâu đà sẳng nơi.

Ít nhiều tiền bạc theo đời, Có ba bốn hạng rước mời tùy nghi.
Đồ đoàn đủ hết y nguy, Lẹ mau công chuyện vậy thì như chơi.
Sài-gòn Chợ-lớn hai nơi, Coi trong tang lể tục đời rất xinh.
Dẫu ai nghèo khỗ một mình, Chúng bạn hết tình khi chết giúp nhau.
Nhà vàng giá triệu trước sau, Kẻ đa người thiểu nhóm nhau đưa đường.
Tục hay cờ bạc thường thường, Bài cào thứ nhứt các đường hẻm co.
Ăn thua chẳng kễ khốn nghèo, Xóm nào xóm nấy đánh theo chặn nhà.
Bất kỳ bé lớn trẻ già, Đờn ông đờn bà đạp tới thời mê.
Nhì là sá hỏ với me, Phá hấu, tứ sắt, các tê, dập dều.
Thói hay bắt chước nhau đều, Mấy năm nay cả sắm nhiều vàng đeo.
Bông kiền trăm chuỗi xuyến neo, Chậc tay chậc cỗ thêm đeo hột xoàn,
Càng ngày càng mắc giá vàng, Tiền công thợ bạc quá ngàn quá muôn,
Bày ra kiễu cách rập khuôn, Lâu lâu lại có luôn luôn mới hoài.
Đua nhau trang sức dồi mài, Cá chìm sóng sắc trai tài ngã xiêu.
Mây mưa một trận ấp yêu, Ngàn vàng không tiếc mua liều thú chơi.
Sài-gòn Chợ-lớn lịch đời, Vàng đeo dẩy cỗ xoàn ngời hai tay.
Chà-và có vận cho vay, Tịch nhà lấy đất giấy đầy chật rương.
Ngậm nguồi cái cuộc tan thương, Nhơn tâm thế biến lẻ thường sữ nhiên.
Coi qua một chuyện nhãn tiền, Thì kia các chuyện biết liền đâu sai.
Châu-thành du đãng trong ngoài, Lập phe lập lủ tranh tài với nhau.
Bồn-kèn, đường-mới đâu đâu, Củ chì tay sắc đứng đầu là hơn.
Nghiêm hình trọng phạt chi sờn, Miểng cho trã oán rữa hờn mới cam.
Thói dân như vậy sao kham, Dần dần xin phải trước làm răng he.
Từ khi chánh-soái Đu-Me (Doumer), Đông-dương các việc thêm bề sữa sang.
Sài-gòn đến ải môn quan, Hỏa xa thiết lộ sắm toan khởi hành.
Phí bao ức triệu công trình, Khoan sông đào núi sữa bình đường đi.
Lần lần nay đã cữ thi, Từ Nam đến Bắc chờ khi cáo thành.
Lăng-Si (Blanchy) lấy lẻ công bình, Thương dân nghèo khỗ đem mình trở ngăn.
Rủi vừa xảy phát bịnh căng, Xuống làm địa hạ Tu-văn đã rồi.
Người than kẻ khóc ngậm ngùi, Tưởng xưa công đức sụt sùi nhớ trông.
Đu-Me (Doumer) công việc chưa xong, Ngài đà mảng hạng về trong xứ mình.
Các quan hội nghị Pháp-đình, Lựa người mẩn cán liêm thanh trọng thần.
Ông-Bô (Beau) đương nhặm Bắc-Kinh, Triều-đình điễn báo cữ hành chiêu chương.
Toàn-quyền-tổng-thống Đông-dương, Khâm-sai khổn ngoại phong cương điều đình.
Tàu ngài vừa tới châu-thành, Người ta chim ngưởng oai linh vang dầy.
Cầm cân nam bắc một tay, Đông-dương triệu chúng đều rày ngóng trông.
Nam-kỳ Thống-đốc một ông, Ro-dê (Rodier) đổi lại cũng trong chuyến nầy.
Minh lương hội ngộ sum vầy, Mưa nhơn khi rưới cả bầy dân đen.
Tánh dân mềm diệu khá khen, Tôn quân thân thượng thói quen roi còn.
Lịch xinh phong thổ Sài-gòn, Mấy thầy làm việc sắc son một lòng.
Trong ngoài xu sự phó công, Hai bên bổn phận thảy xong chuyện mình.
Đều là phấn phát thân danh, Nơi nơi giềng mối thừa hành chẳng sai.

Bề trên thạnh trị lâu dài, Thuộc liêu phận dưới đủ tài thảnh thơi.
Mỗi tuần chúa-nhựt nghỉ ngơi, Cầm kỳ thi tưởu nhóm chơi luận đàm.
Chữ nhu đờn địch vui ham, Vản lai xướng họa siêng làm rất hay.
Quân thân là ngởi cao dày, Phu thê huynh đệ bạn rày ngủ luân.
Cầu cho đều thảy thận cần, Trọn bề ngay thảo giữ thân nhơn nghì.
Chánh soái Lo-bu-côp-ki (Klobukowski), Đương kiêm hiện tại trấn thì Đông-dương.
Ngài hay độ lượng khoan hường, Thương dân Nam-việt xem dường cổ quăn.
Phải trang khâm mạng đại-thần, Mở lòng cha mẹ đoái phần tôi con.


Chợ-Lớn

Chợ-lớn phong cảnh thi:

Dời đổi nguồi thương cảnh nước non,
Phiền hoa Chợ-lớn giáp Sài-gòn.
Dục-anh rực rở lầu đôi lớp,
Mai-tự sum sê lủy một hòn.
Tham-biện Xả-tây Cò-bót đủ,
Minh-hương Chùa-phật Miểu-đình còn.
Kể sau cho hết bề thanh lịch,
Nho nhã phong lưu dấu chẳng mòn.

Chợ-lớn giáp ranh Sài-gòn, Đường xe ngựa chạy thẳng bon nữa giờ.
Xe lữa lớn nhỏ hai bờ, Một bờ đường giữa một bờ đường sông.
Dai cù bốn phía rộng thông, Dọc ngang ngả ngách thảy đồng có tên.
Rạch kinh ghe đậu kẹo lền, Phố phường lầu cất ở trên chỉnh tề.
Nhà máy bảy sở bộn bề, Tiệm kia tiệm nọ ê hề bán buôn.
Người thanh ở đó dư muôn, Làm ăn nghề nghiệp như nguồn nước sung.
Kẻ nghèo lảnh việc làm công, Người giàu giúp sức không lòng ghét nghi.
Trước sau tin cậy phải nghì, Chẳng hề tham lạm chẳng khi ngại tình.
Hùn nhau thương mải kinh dinh, Thường niên tính sổ phân minh vốn lời.
Nước Nam nhơn tánh ở đời, Ghét người thắng kỉ sợ người hóa nghi.
Vậy nên cát hản công-ti, Nhát gan nhỏ bụng ít khi lập thành.
Chẳng bằng người nước Đại-thanh, Tề tâm hiệp lực dinh sanh xa vời.

Sống thời sanh lý ở đời, Chết thời nghĩa-địa sẳng nơi chôn về.
Mảnh xương thâu trử đề huề, Chẳng cho thất lạc bộn bề tấm thân.
Nặng nề xâu thuế cấp cần, Mà hay dều dắc đở lần nhau đi.
Tan bồng hồ thĩ nam nhi, Phải nhơn phải nghĩa phải nghì tương thân.
Thói hay kỉnh phụng quỉ thần, Ở đâu chùa miễu lo phần vỉnh vi.
Hà-chương Hội-quán ai bì, Ôn-lăng Thất-phủ hạn nhì hạn ba.
Các chùa còn lắm xa hoa, Thờ Ông Phước-đức thờ bà Thai-sanh.
Thiên-hậu thánh-mẫu rất linh, Quan-công-thánh-đế lịch xinh tượng hình.
Vái van cúng tế kỉnh thành, Xin xăm cầu thuốc rập rình ngày đêm.
Thường khi sông biển thuận êm, Bạc ngàn trả lể chẳng hềm tốn hao.
Cộ chưng không sót Bang nào, Đua nhau khéo vụng lao xao trăm bề.
Các phương hỉ cúng lạc dề, Có dư thì để của về công nho.
Lợi vào trước nhỏ sau to, Cho vay cất phố xúm lo bồ chì.
Tục hay thượng quỉ háo thi, Lại hay tin tưởng những kì dị đoan.
Giấy tiền vàng bạc tro tàn, Mua ra phí đến muôn ngàn như không.
Tập quen lâu đã tràng đồng, Đã hay bắc chước mà lòng tự nhiên.
Đời nay chuyện thấy nhản tiền, Các nước đều có thói riêng rỏ ràng.
Nghề buôn thứ nhứt khôn ngoan, Hai là nghề thợ lại càng khéo lanh.
Cuộc chơi Chợ-lớn Châu-thành, Mỗi đêm hao tốn chứa dành tiền muôn.
Các trường diển hí giải buồn, Bạn Nam bạn Quản hát tuồng cũng vui.
Đầu hôm đông đảo tới lui, Chổ đèn năm ngọn ăn ngồi xuê xan.
Bán đồ ăn uống nhẩy tràng, Bá ban thập vật bỉ bàn lại qua.
Lầu-xanh chổ khách vô ra, Treo lồng đèn hiệu trước nhà nhởn nhơ.
Giọng ngâm giọng hát ngẩn ngơ, Trêu hoa ghẹo nguyệt phỉnh phờ ấp yêu.
Tiềng bạc không đặng bao nhiêu, Trong năm bảy cắt mà liều bỏ thân.
Mối mang miễn tới cho cần, Rước đưa đưa rước mấy lần cũng xong.
Những còn Nhựt-bổn Quản-đông, Đỉ mà sửa soạn chổ phòng khiết tinh.
Nhộn nhàn ong bướm đem tin, Lớp lui lớp tới kình kình ngựa xe.
Mượn màu son phấn trẻ khoe, Dập dồi sóng sắc một bè gió trăng.
E khi bịnh hoạn không chừng, Có Quan thầy-thuốc mỗi tuần lục xi.
Mấy con lo lậu bất kì, Đi hoan trốn thuế lắm khi tiềm tàn.
Tú-bà phỉn dỗ khôn ngoan, Trau tria nhan sắc coi càng thêm duyên.
Khách sang rước chở đầy thuyền, Miển cho đẹp ý bạc tiền sá chi.
Lắm trang nho nhả nam nhi, Ngở là vưu vật khả di nhơn tình.
Ai dè nó quá phong tình, Đa dâm uế trược cả mình không kiên.
Rủi ro độc khí nhiểm truyền, Dương-mai bịnh phát khốn điên có ngày.
Bỡi vì không có quan thầy, Không ai xem xét nên rày sanh đau.
Tuần do ngăn đón trước sau, Thằng bắt con gái tróc câu dẩn về.
Chủ hoa chực lãnh tư bề, Đứa mô có bịnh đem về nhà-thương.
Nước nhà phép nhặc chiêu chương, Chẳng kiên chẳng sợ cứ vương vấn hoài.
Độc truyền cả gái cả trai, Biết đâu mà chuột thuốc bài trừ căn.
Các quận phong tục làm ăn, Có đặt Hộ-trưởng coi dân châu thành.

Xả-tây lầu cất rộng thinh, Của trong thành phố phân minh mối giềng.
Sài-gòn so lại bực tiên, Sau thì Chợ-lớn của tiền biết nhiêu.
Coi ra thâu xuất rất đều, Càng thêm thanh lịch càng nhiều phiền ba.
Dục-anh mới lập một tòa, Lầu đài thứ lớp thật là lịch xinh.
Khuôn viên ở dựa châu thành, Hai bên rộng rãi đành rành nghiêm trang.
Ổn-bà tánh hạnh diệu dàng, Học chuyên phép mụ kỉ càng không sai.
Chuyện làm phước đức lâu dài, Dựng nên cơ chỉ hơn vài ba năm.
Thương người thai sảng lỗi lầm, Bày ra có chỗ nuôi cầm trẻ thơ.
Nguyễn-Thân vừa lúc ơ hờ, Gặp người làm phải mặt ngơ bao đành.
Cúng ba trăm bạc lấy tình, Củng là nghĩa cử mĩ danh lưu truyền.
Đu-Ê (Drôuhet) người có đức hiền, Vợ chồng gầy dậng mối diền mở mang
Nam-kỳ phụ nử muôn ngàn, Đội ơn chẳng khác rỏ ràng thân sanh.
Các nơi cò bót xanh quanh, Thủy hỏa đạo tặc tuần hành đa đoan.
Tham-biện phần coi tổng làng, Lầu cao dinh rộng tứ bàn khuôn viên.
Học trường dạy dỗ công siêng, Trường quan trường tổng sanh viên dập dều.
Nhà thờ nhà phước mĩ miều, Cả trong toàn hạt cũng nhiều chổ danh.
Hiên, Kì, sự nghiệp thân vinh, Ông Lương-minh-Ký lạc tình y gia.
Ngoại khoa đắt pháp Hoa-đà, Huề nang lai việt phương đa diệu huyền.
Nam-kỳ sỉ thứ quan viên, Mông ân tế cứu lịch niên danh trì.
Hiện tồn chơn tượng dung nghi, Y quan chỉnh túc tu mi lão thành.
Tâm điền lưu giữ hậu canh, Lang tôn quế tử ninh hinh mãng đình.
Biển liên đề tặng phân minh, Chiêu chương sự tích gia thinh huy hoàng.
Châu thành đủ các cữa hàng, Hàng Tây hàng Bắc với hàng Xiêm Mên.
Hàng Chà hàng Chệc hai bên, Mấy từng lầu cát dước trên ở đầy.
Hướng-Dương tiệm lập cũng hay, Đở cho thiên-hạ như vay nhẹ lời.
Thiếu chi tộc hậu các nơi, Sanh nhai đắt ý ăn chơi không nhàm.
Thiếu chi thầy thợ việc làm, Các ông Địa-lý luận đàm thấp cao.
Y sanh kể hết xiết bao, Duy ông Chức-Tượng tuổi cao phải thầy.
Lòng nhơn giúp chúng lâu nay, Nghĩa phương giáo tử vui thay thọ tràng.
Thầy Cát-chú, cũng bộn bàn, Thầy-bói thầy-tướng dọc ngang hiệu đề.
Làm ăn sở cậy có nghề, Ít năm đem bạc trở về cố thôn.
Lại thêm các sãi thuyền môn, Ở bên Hương-cãng nghe đồn nước Nam.
Nhơn khi chùa miễu việc làm, Thiêu hương kiến tiệu thỉnh đam sang thường.
Thầy chùa ở tại địa phương, Tụng kinh chịu đám phố phường các nơi.
Hoặc là tuần tự cúng mời, Cúng sao cúng hạn theo đời cũng xong.
Thầy-pháp khiển tướng sai đồng, Ráng hơi hò hét Bà-hồng lên ngang.
Chầu mời thì rước bóng chàng, Thầy-dò thầy-quẻ hay bàn hơn thua.
Thợ-bạc đắt đủ bốn mùa, Thợ-may chỉ đắt một mùa đông thiên.
Thợ-đá làm cũng khá tiền, Thợ-thêu liển trướng liền liền cã năm.
Thợ-mộc năn trử hàng nằm, Thợ-sơn thợ-cẩn bạc trăm có thường.
Lại thêm các thợ nhiểm-phường, Các lò thợ-đúc tỏ tường khuôn viên.
Ảm-công đồ sắm nhiều tiền, Sang hèn hai hạng theo miền dinh quê.

Đồ ông Hộ-Bảo phủ phê, Người nay đã mất mà nghề còn quen.
Mười giờ tối, đi có đèn, Phòng quân gian tế lộn xen u hòa.
Kể ra các chỗ danh gia, Thuở đời quan cựu có nhà Trịnh-công.
Ngài xưa tá vận Gia-Long, Tên là Hoài-Đức hiếu trung trọn nghì.
Lưu truyền tập Cấn-Trai thi, Gia-định Thông-Chí đều thì ích nhơn.
Phải là phẩm trọng Đẩu-sơn, Dưới trăm năm hẫy còn cơn cãm hoài.
Ông Hộ-Vấp danh chẳng phai, Giàu mà nhơn đức ít ai sánh bằng.
Nhớ khi Ngủ-quản đạo dân, Bị cơn biến loạn cơ bần lưu li.
Cả đoàn trốn đến Nam-kỳ, Đói no sống thác còn gì mà mong.
Ông Hộ xót xa trong lòng, Xin quan cho phép chẫn cùng đạo dân.
Bạc ngàn một thuở thi ân, Mà nay tiếng tốt xa gần ngợi danh.
Roi còn con cháu hiển vinh, Cho hay tích đức minh minh đến rày.
Ông Đổ-hửu-Phương ngày nay, Hưỡng nhờ phước thọ sum vầy thất gia.
Con trai lớn, vợ Lang-sa, Tên là cậu Chẩn nết na hiền lành.
Mình không ỷ thế quyền hành, Lại thêm có đức song sanh trai hiền.
Hầu cận Soái-gia toàn quyền, Thứ nam thi đậu nhãn tiền hiển van.
Con gái là cô Ba-Nhàn, Lấy chồng người nghệ tên Hoàng-trọng-Phu.
Cũng dòng khoa mụt văn nhu, Nay làm Tổng-đốc hoạn du Bắc-kỳ.
Nhà sang vật quới thiếu chi, Cập hàng dưỡng lảo tứ vi đá liền.
Tánh hay đải sỉ chiêu hiền, Một năm rước khách tốn tiền ngàn muôn.
Ngựa xe trước cửa luôn luôn, Phãi nơi phần phước vạt chuông một nhà.
Vẹn tròn danh giá tiếng xa, Bài thơ hưu trí trẻ già đọc van.
Quả nhiên phước lộc thọ toàn, Tiên nhơn thế trạch ngày càng lưu phương.
Tân-hòa sung thạnh thôn hương, Nhà-thờ Chợ-quán đống lương chỉnh tề.
Tốt tươi bông trái tư bề, Xứ nhiều lò đúc thật nghề tinh chuyên.
Một tòa Nhà-phước mối giềng, Ruộng vườn đất cát bạc tiền dinh dư.
Phãi là một chổ thiện từ, Phãi là vỉnh viển căn cư đời đời.
Đồng nam đồng nử thảnh thơi, Sớm khuya ăn học cập thời gia công.
Các bà nuôi dạy hết lòng, Tu hành phước đức ơn đồng thân sanh.
Nhà thương một sở thinh thinh, Giúp người bịnh hoạn dưỡng tình nhàn thân.
Đội nhờ phép nước thi ân, Làm ra có chổ cứu dân tai nàn.
Thuở kia ông Đốc-học quan, Tên Trương-vỉnh-Ký tánh càng hiền lương.
Tiếng tâm chử nghĩa ngoại phương, Chí công đi học dặm trường non sông.
Các quan thọ nghiệp rất đông, Truyện thơ các món dịch dùng quấc âm.
Dựng cờ giữa chốn Từ-lâm. Tiên phong đạo cốt thâm trầm ung dung.
Ơn vua Đồng-Khánh tặng phong, Thi chương ngự tứ Nam-trung ẩn-hiền.
Nay còn con nối mối giềng, Một nền lư mộ cận biên Thánh-đường.
Người đều hoài cảm tư lương, Đấu roi sánh vở tỏ tường mấy pho.
Thương ông Tổng-Nhiệm Cầu-kho, Mấy năm sáng tạo cơ đồ dọc ngang.
Công-ti lập tiệm sửa sang, Đặt người coi sóc lang chang bộn bề.
Sắm tàu hai chiếc chỉnh tề, Dạo chơi các sở khi về khi đi.
Bại thành há kể làm chi, Song le lạm dụng bỡi vì phi nhơn.

Người Nam thương cuộc ai hơn, Ngàn năm tiếng để còn cơn chạnh lòng.
Có người giàu lớn lạ lùng, Ông Lê-phát-Đạt Nam-trung ai tày.
Thật là cự phú đời nay, Con trai đều thảy dân Tây sang giàu.
Khen cho phú quí mưu sâu, Dạy con một cách nhiệm mầu đều nên.
Chia ra đâu đó vững bền. Thủ thành sự nghiệp dưới trên thuận hòa.
Sống thì cần kiệm khởi gia, Đến khi tương tữ vậy mà tâm linh.
Cúng vào Hội-thánh đinh ninh, Ba mươi muôn bạc để danh lâu dài.
Đặt tên tiếng nói không sai, Nhà-thờ Chợ-đuỗi truyền lai mối giềng.
Tượng Chúa ngó ra phía tiền, Trung gian là chỗ táng yên dai-thành.
Nay đà công cán sự thanh, Lể mừng khánh hạ tiếng lành thơm xa.
Ông Huỳnh-tịnh-Trai tuổi già, Công lao giúp nước cũng là bền dai.
Ở bên Cầu-muối lâu dài, Tại phòng Phiên-dịch tỏ tài mọi nơi.
Văn thơ các cuốn để đời, Quấc-âm-tự-vị rạng ngời thân danh.
Phải trang niên xĩ lảo thành, Chức làm Đốc-phủ lạc tình thung dung.
Hội-y mới lập bên sông, Khá khen gầy dựng nhọc lòng lắm thay.
Qui mô sự nghiệp mới bày, Nhờ trong Chợ-lớn mấy thầy giúp lo.
Bạc vàng cúng chẳng so đo, Tưởng làm vĩnh viễn cơ đồ bền lâu.
Ai dè việc chẳng khéo âu, Buỗi đầu hiệp ý mà sau trái lòng.
Người gọi rắn, kẻ nói rồng, Không bằng Thợ-bạc vung trồng Lệ-châu.
Lệ-châu thủ nghĩa cao sâu, Lệ-kiêm chói rạng Hãi-châu chiếu ngời.
Tề tâm hiệp lực ở đời, Khiêm cung lể nghĩa tánh trời tự nhiên.
Tục hay bày đặt chùa chiền, Thiện nam tính nữ của riêng lập thành.
Mùa Xuân tế lể nghiêm minh, Dưng bông hát bội rập rình ngày đêm.
Vãn lai thù tạt thuận êm, Kẻ công người của tình thêm phỉ tình.
Hoặc ai đau chết thình lình, Dưởng sanh tống táng phận đành chung nhau.
Dấu roi thói tốt về sau, Truyền cho con cháu bền lâu rạng ngời.
Chợ-lớn là chỗ ăn chơi, Cầm kì thi họa trải đời đẹp xinh.
Cổ bàn bánh trái có danh, Tục hẫy để dành tiếng cổ Minh-hương.
Chùa Minh-hương, cách khác thường, Coi ra thủy thổ quấc vương có lòng.
Long-phi hai chữ chánh trung, Lưởng bang tả hữu chữ dùng phụng lân.
Long là nghĩa trọng thánh-quân, Phụng lân nghĩa kính quần thần đống lương.
Đỗi dời mấy cuộc tan thương, Còn chùa để dấu khách thương cội nguồn.
Nhớ xưa sự tích cũng buồn, Gẫm nay thế biến chuyển buồn hóa vui.
Chùa-mai cảnh trước ngậm nguồi, Phong lưu sỉ nữ lắm hồi xuống lên.
Nay làm đồn lủy một nền, Lính tây canh gát riêng bên lâu dài.
Thuở đà triệt phá chùa mai, Nhơn sao tên củ còn hoài bởi đâu.
Vợ chồng Hộ-Yến nguyện cầu, Cất ra gần đó tốn âu bạc ngàn.
Dấu xưa không nở để tàn, Của nhà tự xuất rỏ ràng lạc huyên.
Đã đều về chốn huỳnh tiền, Phu thê linh sảng lên miền thiện giêng.
Chùa thí nước, ông Tôn-Hiền, Tu hành công quả nhọc siêng nhiều bề.
Thiệt thà giữ phận dốt quê, Giải thân khổ hạnh dựa kề Không-môn.
Nay đà siêu thác thần hồn, Dấu roi chất phát người còn cám trông.

Trụ trì ông Nguyễn-từ-Phong, Ở chùa Giác-hãi dưởng dung bấy chầy.
Gốc cô Hai-Liễu dụng gầy, Thêm nhờ Bổn-đạo ngày nay lập thành.
Từ-Phong có chí tu hành, Sảo tri nho học tánh lành không đua.
Cô Hai-Liễu rước về chùa, Bấy lâu hương hỏa bốn mùa thạnh sung.
Chợ Bà-hom ở giữa đồng, Thành-hoàng miễu vỏ đất giồng anh linh.
Chùa Long-thạnh, cảnh lịch xinh, Ông Hòa-thượng Hĩ học hành lắm công.
Văn chương kinh kệ khá thông, Dạy chư môn đệ học trong đạo thuyền.
Từ bi chữ dạ phật tiền, Thị phi thế sự không phiền đến tai.
Thầy chùa sáu tỉnh một ngài, Chẳng lòng trần lụy chẳng hoài lợi danh
Phải trang tu niệm lảo thành, Tương rau dưởng chí đã đành tự như
Phong thổ Chợ-đệm ngã tư, Cối xay với đệm dinh dư trữ nhiều.
Dân nhờ ruộng đất đủ tiêu, Làm ăn chắc chắn người đều thảnh thơi.
Bình-điền Bình-chánh các nơi, Hai bên đồng ruộng lộc trời phì nhiêu.
Bình-tây Rạch-cát ghe nhiều, Gò-đen Rạch kiến Rạch-đào chợ sung.
Hẩy còn noi dấu cổ phong, Ăn chơi đờn địch thung dung lắm nhà,
Thuở Cựu-trào, rạch Đôi-ma, Gần bên rạch Kiến cũng là sự linh.
Nguyên xưa Phạm-thị nữ trinh, Gả cho Nguyễn-Tánh học sanh vợ chồng.
Hỏi rồi mà cưới chưa xong, Hai người ruổi chết cũng trong một hồi.
Đôi bên cha mẹ ngậm nguồi, Nghĩ duyên tức tối sục sùi thở than,
Tữ đồng huyệt, sanh đồng sàng, Cho chôn chung lại một phan mộ phần.
Hồn linh hiển hiện nhiều lần, Người ta ngó thấy kêu rằng đôi ma.
Cách sông một khúc ngang qua, Có làng Đái-nhựt thờ mà Mai-hương.
Nắc-Thăm nguyên lúc nhiểu nhương, Rước binh Xiêm lại tranh cường giết anh.
Nắc-Yêm bôn tẩu Định-thành, Lịnh vua sai tướng hưng binh cứu nàn.
Hương làm Tào-vận tiểu quan, Quản coi một chiếc lương thoàn chở đi.
Quân Mên triệc ngã Bần-quì, Mai-công liệu thế hiểm huy nhản tiền.
Truyền quân lập tức đục thuyền, Mình cùng lương phạm xuống miền tiêu-tương.
Bỏ thân tách cỏi Trần-dương, Hồn chôn bụng cá phách nương hà phần.
Truy phong làm Tữ-nghĩa-thần, Ban tiền lập miểu kế gần Thủy-biên.
Nay còn tế tự thường niên, Nội làng hương-chức nhọc siêng phải nghì.
Bên miểu có cây bần-quì, Miểu ông bần-quì, tục-ngữ còn ghi.
Sông-tra lên xuống hằng khi, Ghe buôn tới đó đều thì vái vang.
Thương người trung liệc tữ nàn, Muôn năm huyết thực rở ràng tạc biêu.
Đường sông có sấu cũng nhiều, Bởi vì thanh vắn quạnh hiêu tư bề.
Ranh đất Gò-công giáp kề, Theo bờ đồng ruộng ngó mê cả ngàn.
Lắm quân trộm cướp tìm tàng, Các nơi chủ chứa trong làng thiếu chi.
Có người tuổi tác tu mi, Chức làm Linh-mục vậy thì tên Đoan.
Lão thành tánh nết kỉ cang, Sảo thông nho đạo tập nhàn y-phương.
Ham vui từ điệu văn chương, Thi thơ mảng tháp phô trương luận bàn.
Đã về hưu-trí dưởng nhàn, Lương-hòa An-hạ, tổng, làng đều thương.
Nay đà lên chốn Thiên-đường, Dấu roi mô phạm chúng thường ngợi tôn.
Trường riêng các chổ xã-thôn, Tứ-thơ, Ấu-học, lưu tồn văn phong.

Trẻ con đi học cũng đông, Tập làm đối đoạn gia công trao dồi.
Chợ-quán có trường học Đui, Bày ra cách dạy chữ dùi cũng hay.
Rờ vào biết nét vạy ngay, Tiếng tâm chữ nghĩa trong tay lập thành.
Bỡi nhờ ơn nước rộng tình, Thương công Thầy-Chí học hành linh tinh.
Ruổi ro lưởng mụt thất minh, Cắp bằng cho chức dạy mình trường Đui.
Hậu ban bổng lộc dưởng nuôi, Vợ con no ấm đặng vui phận nhàn.
Tốt thay bảy chục hai làng, Quan hôn tang tế tục càng thuần lương.
Nơi nơi nghiêm chỉnh Thánh đường, Tu bồi Phật-tự chấn trương Thần-đình.
Sỉ nông công cỗ lạc tình, Vản lai thù tạc hòa bình tiếp giao.
Châu-thành đất lịch người hào, Gần đồn Mai-tự có ao sen đầy.
Bông hoa cây trái nhặc dày, Rẩy trồng phẩm vật đủ rày thứ rau.
Gần tết bất kì ở đâu, Mẩu-đơn, phật-thủ, gánh hầu nhà sang.
Mồng-gà, bạch-cúc, sữa đang, Quít, cam, trong chậu sẳng sàng trái tươi.
Ơ bên Hương-cảng các nơi, Chở qua Tây-cống cho người thưởng xuân.
Hoặc dân bổn hạt chuyên cần, Liệu ngày trồng sửa nhằm chừng không sai.
Thiều quan chín chục thẳm dài, Chơi năm ba bữa nào ai hẹp dùng.
Phong lưu nho nhả khiêm cung, Y quan tề chỉnh đờn ông lịch đời.
Đờn bà vòng chuổi chói ngời, Áo quần đẹp đẻ nói cười thanh bai.
Phấn hương xông ướp dồi mài, Lênxe xuống ngựa sắc tài xuê xan.
Lắm khi lảng phí chẳng màng, Gặp cơn bài bạc trâm ngàn sá bao.
Đánh đề với đánh bài cào, Chẳng kiên quấc cấm ra vào nghinh ngang.
Du-côn lắm kẻ bạo tàn, Xanh quanh Chợ-lớn nhẩy tràng đảng phe.
Trong mình thích tự không ghê, Củ chì, tay sắc, lưởi lê, dòm rình.
Thừa cơ ngộ sự bất bình, Hừng hừng nổi giận đánh inh giữa trời.
Ruổi may chết sống như chơi, Coi nơi Khám-lớn ví nơi cửa nhà.
Từ khi thâu thủ nước ta, Triều đình Đại-pháp ơn ra bảo toàn.
Ngày càng đổi cuộc hèn sang, Bạc vàng tiêu phí cả ngàn cả trăm.
Mới đây hơn bốn mươi năm, Các nhà còn lại bao lăm cang thường.
Thật là thiên đạo chủ trương, Khiến người tan hiệp một trường bi hoan.
Tục hay tin sự dị đoan, Sài-gòn Chợ-lớn rộn ràng thiếu chi.
Vài năm thì có chuyện kỳ, Gốc nơi các chú thị phi bày đều.
An-nam hay bắt chước theo, Mấy người tu núi dặp dều lăng xăng.
Ghe phen phép nước khuyên răng, Tha rồi lại phạm năn năn ở tù.
Thương thay Thánh đạo trăng vu, Ai minh đường chánh ai xu lẻ tà.
Tánh người mềm diệu thiệt thà, Thấy đâu tin đó cũng là thói chung.
Lại ưa tiếm đỏ điều hồng, Lắm khi sắc đỏ đem dùng phô trương.
Bính-đinh hỏa tại Nam phương, Hoàng-triều thượng xích tục thường chuộng yên.
Hẩy còn câu hát tục diêu, Nói luôn cho biết mỉ miều giọng ca.
Ai mà thấu đặng lòng ta, Ta cho một vót Hồ-la nhuộm điều.
Hai mươi hai hạt thảy đều, Trừ ra tang sự đỏ nhiều cách sang.

Tân-An

Tân-an phong cảnh thi:

Đoái nhìn phong cảnh hạt Tân-an,
Đất tốt người đông ruộng cả ngàn.
Giồng-én Tướng-quân bia hẩy tạt,
Vững-gù khoa giáp tiếng còn van.
Nỗi danh lớp trước nhiều tay lịch,
Phát phước giàu to lắm kẻ sang.
Tục mỹ phong thuần khoe chốn chốn,
Đờn thi xướng họa thú thanh nhàn.

Vủng-gù là hạt Tân-an, Châu thành Bình-lập thật làng có danh.
Hai bên phố xá phân minh, Nhà việc ngay giữa đất chinh chinh bằng.
Nhờ quan Chánh-bố La-rang (Lagrange), Trước ngồi Rạch-giá sau thăng Vủng-gù.
Tới đâu kinh lý chĩnh tu, Làm cho các xả công nhu có nhiều.
Ngài hay nghĩ nghị bày đều, Sữa Tân-an hạt mĩ miều tốt thay.
Châu-thành Bình-lập ngày nay, Nghiêm trang tề chỉnh thêm rày lợi riêng.
Châu-hoằng-Long, rất lanh siêng, Năm năm làm xả mối giềng nội thôn.
Tánh người nhặm lẹ khéo khôn, Lập gánh hát bóng tiếng đồn gần xa.
Thông minh ít kẻ ăn qua, Bao nhiêu máy móc coi ra đũ đều.
Có em tên gọi Giáo-Nhiều, Lâu nay chứa để biết nhiêu kiểu hình.
Mấy mươi thứ kiểu phân minh, Đóng khuôn sấp lại treo xanh quanh nhà.
Tánh chơi cũng khác người ta, Dạy con ăn học thiệt thà nghỉa phương.
Đồ làm chung biểu đầy rương, Siêng năng sớm tối thường thường sữa trau.
Khen cho ý tứ cơ cầu, Đồng-hồ nghề nghiệp nhiệm mầu trí riêng.
Đẹp thay nhà Hội-đồng Nguyên, Cột rường tráng lệ khuôn viên một tòa.
Chiêu hiền đải sĩ gần xa, Rượu đờn thơ phú xướng hòa ăn chơi.
Tân-an toàn hạt nơi nơi, Ruộng hai ba hạng lộc trời phì nhiêu.
Đất thuột ruộng thảy mĩ miều, Đất hoan mới khẩn chỗ đều kheo khư.
Thâu-thành khi thiếu khi dư, Bỗn căn thỗ sảng gốt chừ là nông.
Tiếng rằng ruộng khẩn Bắc-đông, Đá-biên, Cờ-nhiếp minh mông cả rừng.
Đá-biên vàm có tàu ngừng, Trao thơ bánh thịt ghe luân chuyển vào.
Tới nơi Cờ-nhiếp sẻ giao, Họa-đồ kinh-lý thâu vào luôn luôn.
Thuở xưa cảnh ấy quá buồn, Ngày nay mở phát phá ruồng mới xong.
Thẳng vô tới kinh Bắc-đông, Nhã tư mới củ đào thông hai đầu.
Một đầu đào củ đã lâu, Một đầu thì mới đào sau đã rồi.
Từ đó thẳng vô một hồi, Đến Nhơn-ninh xã hẳng hòi dân đông.
Thương Ngô-hửu-Tự có công, Qui dân lập ấp nghiệp nông thành làng.

Tục ngữ kêu kinh Năm-ngàn, Dân nhờ hột lúa nhẩy tràng đủ tiêu.
Đập đià cá mắm biết nhiêu, Tưởng ngày sau cũng thêm nhiều người ta.
Trời cho cây sẳng cất nhà, Thiên thiên vạn vạn gần xa những tràm.
Sanh ra ở cỏi bờ Nam, Lợi trong đất nước siêng làm xiết bao.
Liền nơi Cờ-nhiếp thẳng vào, Muốn nhắm chỗ nào thì có thang-trông.
Minh minh trước mặt những đồng, Thông qua Thập-tháp không không cả trời.
Rừng-tràm xem khắp nơi nơi, hyMỷ-tho, Sa-đéc, xa khơi tứ bàn.
Dân cư rãi rát xóm làng, Gốc nhờ lúa cá cũng nhàn với nhau.
Năm ba năm nữa về sau, Chắc thêm đông đảo lợi đâu sánh tày.
Dân giàu nước mạnh xưa nay, Chánh-chung thạnh trị tốt thay vững vàng.
Hềm vì con chuột nhẩy tràng, Đêm ra cắn lúa khốn nàn nhà nông.
Phép chi trừ đặng cho xong, Điền gia các chủ tấm lòng mới an.
Bắc-chiên đất lắm Mên Mang, Giáp với Trà-Lét Nam-vang địa phần.
Ở xen Hớn, Thổ làm ăn, Thổ nhiều Hớn ít người năn cơ hàng.
Giáp-thìn trận bảo vừa tàn, Bước qua Ất-tỵ họa sang cào cào.
Nhà nghèo xiết mấy khổ lao, Tản đi xứ khác biết bao li loàn.
Khắp xem nội hạt Tân-an, Thanh hoa đẳng vật mỗi làng đủ tiêu.
Đồ ăn tôm cá cũng nhiều, Mé sông dừa nước trồng đều nhặc sai.
Xe-lữa bốn buỗi ghé hoài, Tàu-đò tuần lễ đặng vài ba phen.
Ăn chơi bất luận sang hèn, Đấu kê đổ bát thói quen trong làng.
Kì-son, Nhựt-tảo khắp ngàn, Ruộng tốt đầy tràng giáp tới Gò-công.
Kì-son trước có phú ông, Kêu là ông Hóng người đồng nhớ tên.
Hẫy còn tiếng để lâu bền, Rằng kinh ông Hóng ai quên đặng nào.
Các nhà khoa mụt cựu-trào, Cữ-Cần, Cữ-Kiệm, phú hào lưu lai.
Nay còn con cháu gái trai, Tại làng Bình-hiệp có vài người liêm.
Cai-tổng Cù-Hiển đương kiêm, Với cùng cả Bá khiêm khiêm kính hòa.
Ngụ làng Gia-thạnh Tú-trà, Cữ-Tấn, Tú-Thiệp quán là Phú-xuân.
Cữ-Thông, Cữ-Đạt, Cữ-Xuân, Ở làng Bình-trị vừa chừng văn chương.
Tú-Nghi lại với Tú-Lương, Cũng người làng ấy khoa trường hữu duyên.
Thầy Tú-Khâm, có điền viên, Người làng Ái-nghĩa tánh hiền hậu thay.
Tổng Thạnh-hội-hạ đến nay, Khoa danh thuở cựu đông dầy rất xinh.
Gốc nhờ sư phạm tiên sanh, Đào-duy-Khâm trước tát thành lắm công.
Làng Tường-khánh, tổng Hưng-long, Tục kêu Cái-én là giồng Tiền-quân.
Phò Cao-hoàng, đại công huân, Ông Nguyễn-huỳnh-Đức gian truân nhiều lần.
Sanh vi tướng tử vi thần, Hiện tồn lư tẩm mộ phần tại nơi.
Cháu chắc còn ba bốn đời, Là Nguyễn-huỳnh-Hữu rạng ngời gia thinh.

(Cuốn thứ hai tiếp theo)